Tổng quan nghiên cứu

Thuế giá trị gia tăng giữ vai trò huyết mạch trong hệ thống tài chính công, đóng góp từ 30% đến 40% tổng thu ngân sách nhà nước tại Việt Nam và là công cụ vĩ mô quan trọng nhằm điều tiết sản xuất, định hướng tiêu dùng xã hội. Huyện Mỹ Đức nằm ở phía tây nam thành phố Hà Nội với tổng diện tích tự nhiên 22.625,08 ha (chiếm 6,72% diện tích Thủ đô) gồm 21 xã và 1 thị trấn. Trong giai đoạn 2015-2018, kinh tế địa phương ghi nhận sự chuyển biến tích cực khi quy mô dân số tăng lên 190.398 người vào năm 2018, kéo theo sự phát triển nhanh chóng của khu vực kinh tế tư nhân. Mặc dù số thu thuế giá trị gia tăng năm 2017 đạt 105% so với dự toán thành phố giao, công tác quản lý thuế trên địa bàn vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Tình trạng thất thu thuế diễn ra dai dẳng ở các ngành thương mại, dịch vụ ăn uống; tỷ lệ nợ đọng thuế chưa được xử lý triệt để và một số doanh nghiệp đăng ký kinh doanh nhưng không thực hiện nghĩa vụ khai thuế. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế của tác giả Nguyễn Thị Hồng Diệp tập trung phân tích thực trạng giai đoạn 2015-2018, làm rõ các nhân tố tác động và đề xuất 07 giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu lực quản lý thuế. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn, góp phần tăng nguồn thu ngân sách địa phương, hạn chế hành vi gian lận và tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết quản lý thuế hiện đại theo mô hình chức năng kết hợp với lý thuyết tuân thủ thuế tự nguyện và khung quản lý rủi ro thuế. Quản lý theo mô hình chức năng phân tách rõ ràng các khâu nghiệp vụ chuyên biệt: đăng ký thuế, xử lý tờ khai, đôn đốc nợ thuế và thanh tra kiểm tra. Căn cứ pháp lý chủ đạo của nghiên cứu dựa trên Luật Thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12, Luật sửa đổi số 31/2013/QH13 và Thông tư 219/2013/TT-BTC. Về bản chất, thuế giá trị gia tăng là sắc thuế gián thu đánh vào giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ qua từng khâu từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng, có phạm vi điều tiết rộng và nguồn thu chiếm từ 30% đến 40% tổng số thu thuế hàng năm. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh được định nghĩa là các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc sở hữu tư nhân, không có vốn góp của Nhà nước. Báo cáo của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho thấy cả nước có khoảng 500.000 doanh nghiệp tư nhân, trong đó hơn 96% là doanh nghiệp quy mô nhỏ và siêu nhỏ. Nhóm đối tượng này sở hữu tính năng động cao nhưng trình độ quản trị kế toán chưa đồng đều, dễ nảy sinh các hành vi mua bán hóa đơn bất hợp pháp để trục lợi tiền hoàn thuế từ ngân sách.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp hài hòa giữa phương pháp định tính và định lượng, khai thác dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Số liệu thứ cấp giai đoạn 2015-2018 được thu thập từ các báo cáo tổng kết của Chi cục Thuế huyện Mỹ Đức, Cục Thuế thành phố Hà Nội và Ủy ban nhân dân huyện Mỹ Đức. Đối với nguồn số liệu sơ cấp, đề tài tiến hành khảo sát thực địa bằng phiếu điều tra đối với cỡ mẫu gồm 26 cán bộ công chức đang công tác tại Chi cục Thuế và 30 doanh nghiệp ngoài quốc doanh đại diện cho các ngành nghề trên địa bàn huyện. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện nhằm bảo đảm tính đại diện cho toàn bộ 8 đội thuế chuyên trách và các nhóm doanh nghiệp xây dựng, thương mại, dệt may. Toàn bộ dữ liệu khảo sát được xử lý khoa học thông qua phần mềm SPSS. Việc lựa chọn phương pháp thống kê mô tả, phân tích tần số và so sánh bảng chéo giúp nhận diện rõ nét sự khác biệt giữa quan điểm của cơ quan quản lý và mức độ tuân thủ của doanh nghiệp nộp thuế, tạo cơ sở thực chứng vững chắc cho các đề xuất chính sách.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tổng thu nhập toàn huyện Mỹ Đức tăng trưởng đều đặn từ 5.485 tỷ đồng năm 2016 lên 6.945 tỷ đồng năm 2018, trong đó kinh tế nông nghiệp chiếm 2.096 tỷ đồng, tạo tiền đề thuận lợi cho nguồn thu ngân sách. Số thu thuế giá trị gia tăng năm 2017 đạt 105% dự toán thành phố giao, tuy nhiên cơ cấu thu chưa thực sự tương xứng với tốc độ mở rộng của các ngành nghề kinh doanh tư nhân.

Thứ hai, công tác quản lý kê khai và dữ liệu người nộp thuế bộc lộ tình trạng thiếu đồng bộ. Một số doanh nghiệp sau khi được cấp mã số thuế đã thay đổi địa điểm kinh doanh nhưng không cập nhật với cơ quan thuế, gây khó khăn cho việc theo dõi trên hệ thống quản lý thuế tập trung.

Thứ ba, nợ đọng thuế giá trị gia tăng kéo dài và rủi ro gian lận hóa đơn diễn biến phức tạp. Khối doanh nghiệp dệt may tập trung tại làng nghề xã Phùng Xá có doanh thu ổn định hơn các nhóm ngành khác, song tại các doanh nghiệp thương mại và xây lắp nhỏ lẻ, tình trạng chiếm dụng tiền thuế và lạm dụng chứng từ thanh toán ngân hàng cho các hóa đơn trên 20 triệu đồng nhằm chiếm đoạt tiền hoàn thuế vẫn xảy ra.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên bắt nguồn từ những nguyên nhân nội tại lẫn khách quan. Về phía người nộp thuế, nhận thức pháp luật của chủ doanh nghiệp còn hạn chế; hơn 96% doanh nghiệp tư nhân có quy mô siêu nhỏ, đội ngũ kế toán kiêm nhiệm nên thường xuyên sai sót trong khâu khấu trừ thuế đầu vào. Về phía cơ quan quản lý, Chi cục Thuế huyện Mỹ Đức hiện có 43 cán bộ công chức phải phụ trách địa bàn rộng lớn trải dài trên 30 km với mật độ dân số 933 người/km2. Đồng thời, tỷ lệ lao động không có việc làm của huyện tăng từ 2,14% năm 2016 lên 2,41% năm 2018, thúc đẩy nhiều hộ gia đình chuyển dịch sang hoạt động thương mại nhỏ lẻ tự phát. So sánh với các nghiên cứu tương đồng tại huyện Kinh Môn và thành phố Hải Dương, việc hạn chế về nhân lực kiểm tra chuyên sâu và hạ tầng công nghệ thông tin là thách thức chung tại các chi cục cấp huyện. Toàn bộ chuỗi dữ liệu thực trạng này có thể được mô tả trực quan qua biểu đồ cột thể hiện tốc độ tăng thu ngân sách giai đoạn 2015-2018 kết hợp biểu đồ tròn phân tích cơ cấu nợ thuế theo từng nhóm ngành và bảng đối chiếu mức độ hài lòng của doanh nghiệp đối với quy trình quản lý thuế.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, chuẩn hóa công tác quản lý đối tượng nộp thuế và dữ liệu kê khai: Chi cục Thuế huyện Mỹ Đức chủ trì phối hợp cùng phòng ban cấp huyện rà soát 100% doanh nghiệp ngoài quốc doanh mới thành lập, hoàn thành việc phân loại và cấp mã số thuế trong vòng 3 ngày làm việc, thực hiện rà soát dữ liệu định kỳ hàng quý giai đoạn 2019-2020.

Thứ hai, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra theo tiêu chí rủi ro: Đội Kiểm tra thuế đổi mới quy trình phân tích hồ sơ khai thuế, lựa chọn tối thiểu 15% đến 20% doanh nghiệp có mức độ rủi ro cao về hóa đơn và doanh thu để tiến hành kiểm tra tại trụ sở doanh nghiệp hàng năm, xử lý dứt điểm các hành vi xuất khống hóa đơn đầu vào.

Thứ ba, nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế: Đội Tuyên truyền - Hỗ trợ người nộp thuế định kỳ tổ chức tối thiểu 4 hội nghị tập huấn chính sách mới mỗi năm, giải đáp 100% vướng mắc của doanh nghiệp qua văn bản và đường dây nóng trong thời hạn 24 giờ làm việc.

Thứ tư, siết chặt quy trình quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế giá trị gia tăng: Đội Quản lý nợ và Cưỡng chế nợ thuế phân loại chi tiết các khoản nợ theo từng nhóm đối tượng, thực hiện biện pháp trích tiền từ tài khoản ngân hàng đối với các đơn vị chây ỳ, đặt mục tiêu kéo giảm tỷ lệ nợ đọng thuế giá trị gia tăng xuống dưới 5% tổng thu ngân sách vào năm 2020.

Thứ năm, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho công chức thuế: Ban lãnh đạo Chi cục cử toàn bộ 43 cán bộ công chức tham gia các khóa đào tạo nâng cao kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin, phân tích báo cáo tài chính và rèn luyện đạo đức công vụ hàng năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, ban lãnh đạo và cán bộ công chức tại các Chi cục Thuế cấp huyện: Nghiên cứu cung cấp tài liệu tham chiếu thực tế về quy trình kiểm tra thuế, phương pháp đôn đốc thu nợ và quản lý thuế đối với địa bàn bán nông thôn có 21 xã và 1 thị trấn với đội ngũ 43 cán bộ công chức.

Thứ hai, giám đốc và kế toán trưởng khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh: Luận văn hỗ trợ doanh nghiệp nắm bắt chi tiết quy trình kê khai, khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng, nhận diện các rủi ro pháp lý liên quan đến hóa đơn chứng từ để chủ động nâng cao tính tuân thủ thuế tự nguyện.

Thứ ba, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học khối ngành Quản lý kinh tế, Tài chính - Ngân hàng: Công trình là nguồn tư liệu học thuật phong phú với hệ thống số liệu khảo sát thực chứng từ 26 cán bộ thuế và 30 doanh nghiệp, cung cấp phương pháp luận phân tích quản trị thuế cấp cơ sở.

Thứ tư, cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương cấp huyện: Cung cấp cơ sở khoa học để Ủy ban nhân dân cấp huyện xây dựng quy chế phối hợp liên ngành giữa cơ quan thuế, công an, kho bạc và ngân hàng thương mại nhằm ngăn chặn thất thu ngân sách nhà nước.

Câu hỏi thường gặp

Đặc thù quản lý thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại huyện Mỹ Đức là gì? Mỹ Đức là huyện nông nghiệp có địa bàn trải dài trên 30 km. Hơn 96% doanh nghiệp ngoài quốc doanh có quy mô siêu nhỏ, kế toán kiêm nhiệm nên dễ sai sót. Điểm sáng là các doanh nghiệp dệt may tại xã Phùng Xá hoạt động ổn định, đóng góp vào kết quả thu thuế năm 2017 đạt 105% dự toán thành phố giao.

Tại sao công tác quản lý nợ thuế giá trị gia tăng trên địa bàn huyện Mỹ Đức vẫn phức tạp? Nguyên nhân do nhiều doanh nghiệp thương mại và xây dựng gặp khó khăn tài chính, ý thức nộp thuế chưa cao. Đồng thời, Chi cục Thuế với 43 cán bộ công chức phải bao quát địa bàn rộng nên việc xác minh tài sản và cưỡng chế tài khoản ngân hàng chưa được triển khai đồng loạt.

Luận văn sử dụng phương pháp khảo sát thực địa nào để thu thập dữ liệu? Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện, phát phiếu điều tra tới 26 cán bộ công chức Chi cục Thuế và 30 doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn. Dữ liệu được tổng hợp và phân tích thông qua phần mềm thống kê SPSS để đảm bảo tính khách quan.

Những hành vi vi phạm hóa đơn và trốn thuế giá trị gia tăng điển hình là gì? Các sai phạm phổ biến gồm sử dụng hóa đơn của doanh nghiệp bỏ trốn, lập hồ sơ chứng từ thanh toán khống qua tài khoản ngân hàng đối với giao dịch trên 20 triệu đồng nhằm hoàn thuế trái phép, và cố tình không kê khai đầy đủ doanh thu thực tế trong lĩnh vực ăn uống, dịch vụ.

Ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ Chi cục Thuế huyện Mỹ Đức ra sao? Hệ thống quản lý thuế tập trung TMS giúp 8 đội thuế của Chi cục kiểm soát tự động toàn bộ hồ sơ khai thuế, đối chiếu chéo số liệu hóa đơn và phân loại doanh nghiệp có rủi ro cao. Nhờ đó, cơ quan thuế rút ngắn thời gian xử lý thủ tục và nâng cao độ chính xác khi lập kế hoạch thanh tra.

Kết luận

Những nội dung trọng tâm rút ra từ công trình nghiên cứu bao gồm:

  • Thuế giá trị gia tăng là nguồn thu ngân sách chủ lực, phản ánh sức tăng trưởng kinh tế của huyện Mỹ Đức khi tổng thu nhập đạt 6.945 tỷ đồng vào năm 2018.
  • Khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh phát triển năng động nhưng đòi hỏi cơ chế giám sát chặt chẽ do phần lớn có quy mô siêu nhỏ.
  • Dữ liệu khảo sát từ 26 cán bộ thuế và 30 doanh nghiệp chỉ rõ yêu cầu cấp bách phải hiện đại hóa cơ sở dữ liệu và minh bạch hóa quy trình kiểm tra.
  • Hệ thống 07 giải pháp được xây dựng đồng bộ, gắn liền với việc phân bổ nhiệm vụ cho 43 cán bộ thuộc 8 đội thuế chức năng của Chi cục.
  • Kế hoạch triển khai đặt mục tiêu đưa tỷ lệ nợ đọng thuế giá trị gia tăng xuống dưới mức 5% tổng thu ngân sách giai đoạn đến năm 2020.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là hoàn thiện khung giải pháp quản lý thuế giá trị gia tăng sát hợp với điều kiện thực tiễn địa phương cấp huyện. Các cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp cần tăng cường phối hợp, đẩy mạnh chuyển đổi số và nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật thuế nhằm đảm bảo nguồn lực tài chính bền vững cho phát triển kinh tế - xã hội.