Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về huy động vốn tiền gửi khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng huy động vốn tiền gửi khách hàng cá nhân tại Vietinbank - Chi nhánh Quế Võ Chương 3: Định hướng và một số giải pháp nhằm tăng cường huy động tiền gửi khách hàng cá nhân tại Vietinbank - Chi nhánh Quế Võ 6 Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỬI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Huy động vốn tiền gửi khách hàng cá nhân của NHTM 1. Khái niệm và vai trò của vốn tiền gửi khách hàng cá nhân 1.Khái niệm Nguồn vốn trong dân được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, chủ yếu từ các nguồn như thu nhập từ tiền lương, tiền công, các khoản thừa kế, quà tặng, quà biếu từ nước ngoài… Với những nguồn thu nhập này, sau khi chi dùng cho các nhu cầu, chỉ một phần là những khoản tiền nhàn rỗi, và một phần của những khoản tiền này được gửi vào các NHTM dưới hình thức tiết kiệm để hưởng lãi. Nói cách khác, tiền gửi cá nhân là những khoản tiền trích trong thu nhập, tiền nhàn rỗi của gia đình cá nhân được gửi và ngân hàng với mục đích an toàn và hưởng lãi, chờ đợi một cơ hội chi tiêu trong tương lai.
Đôi khi họ còn gửi vào với mục đích thanh toán nhưng bản chất của lại tiền này là tiền để dành cho cất trữ nên nhìn chung tiền gửi cá nhân có tính ổn định cao. Như vậy, tiền gửi khách hàng cá nhân là khoản tiền do một cá nhân độc lập gửi vào Ngân hàng thương mại nhằm mục đích phục vụ các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt, tiết kiệm và một số mục đích khác. Như vậy, huy động vốn tiền gửi KHCN của NHTM được định nghĩa là việc nhận tiền gửi của đối tượng khách hàng cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận.Vai trò của vốn tiền gửi KHCN Đối với Ngân hàng: Trong xu thế Ngân hàng Bán lẻ như hiện nay, có thể nói nguồn vốn tiền gửi từ khách hàng cá nhân đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các NHTM. Nguồn vốn tiền gửi khách hàng cá nhân không chỉ đáp ứng được nhu cầu vốn cho vay, góp phần tăng tính thanh khoản, mà còn là yếu tố quyết định thương hiệu và uy tín của Ngân hàng.
7 Đối với khách hàng: Nghiệp vụ huy động vốn tiền gửi đem đến cho các khách hàng cá nhân một nơi cất giữ tài sản an toàn, tích trữ vốn tạm thời khi nhàn rỗi; đồng thời còn cung cấp cho khách hàng một kênh đầu tư tiết kiệm sinh lời. Hơn nữa, đây là điều kiện để khách hàng tiếp cận với các dịch vụ ngân hàng thuận tiện và nhanh chóng khác như: thanh toán qua Ngân hàng, chuyển khoản, vay vốn…một cách thuận tiện hơn. Huy động vốn sẽ giúp khuyến khích người dân sử dụng các dịch vụ thanh toán, gửi tiền qua Ngân hàng…từ đó làm giảm rủi ro, nguy hiểm trong việc cất trữ tài sản bằng tiền mặt. Đối với nền kinh tế: Nghiệp vụ huy động vốn tiền gửi khách hàng cá nhân làm tăng tiết kiệm cho nền kinh tế khi các nguồn vốn nhàn rỗi được sử dụng hiệu quả và sinh lời thay vì cất trữ dưới dạng tiền mặt không sinh lời.
Mặt khác, thông qua việc cá nhân giao dịch với Ngân hàng giúp Chính phủ có thể giám sát, điều tiết nền kinh tế một cách chủ động hơn 1. Nội dung huy động vốn tiền gửi khách hàng cá nhân của NHTM 1. Xây dựng kế hoạch huy động vốn tiền gửi KHCN Kế hoạch huy động vốn được xây dựng dựa trên việc xác định được nhu cầu vốn tiền gửi cần huy động từ KHCN và quy mô nguồn vốn tiền gửi. Quy mô vốn tiền gửi huy động có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động của Ngân hàng.
Ngân hàng muốn mở rộng hoạt động cần có quy mô vốn tương đối lớn, trong đó vốn huy động từ tiền gửi là một bộ phận quan trọng. Không thể nói đến chất lượng huy động vốn tốt nếu việc huy động vốn tiền gửi không đáp ứng được nhu cầu về khối lượng vốn kinh doanh. Khối lượng vốn tiền gửi phải đạt tới quy mô vốn nhất định theo kế hoạch huy động vốn của Ngân hàng. Để thực hiện tốt vấn đề này cần phải kết hợp hài hòa các yếu tố khác như lãi suất, chính sách marketing khách hàng, các hình thức huy động vốn và uy tín của Ngân hàng… Tuy nhiên, không phải cứ có nguồn vốn lớn là tốt, nó cần phù hợp với quy mô hoạt động của Ngân hàng, mức vốn tự có, khả năng cho vay và đầu tư của Ngân hàng.
Hơn nữa, việc mở rộng hoạt động chỉ thực sự an toàn khi nguồn vốn tiền gửi huy động được luôn có tốc độ tăng trưởng ổn định. Xác định các chính sách huy động vốn cần triển khai Thứ nhất, chính sách lãi suất Lãi suất tiền gửi Ngân hàng là lãi suất mà Ngân hàng trả cho các khoản tiền gửi vào ngân hàng. Lãi suất này có nhiều mức khác nhau tùy thuộc vào: - Loại tiền gửi là nội tệ hay ngoại tệ - Loại tài khoản là tiền gửi thanh toán hay tiền gửi tiết kiệm - Loại thời hạn là không kỳ hạn, kỳ hạn ngắn hay dài - Quy mô tiền gửi… Tâm lý chung của những người gửi tiền khi gửi khoản tiền của mình vào Ngân hàng là sau một thời gian sẽ thu được càng nhiều lợi nhuận càng tốt. Điều này khiến việc lựa chọn một mức lãi suất cao và hợp lý là việc họ quan tâm đầu tiên.
Sau đó họ mới quan tâm đến các yếu tố khác như: kỳ hạn, mức độ rủi ro, điều kiện thanh toán thỏa mãn các yêu toán, uy tín, địa điểm của Ngân hàng. Tuy nhiên, không phải cứ lãi suất cao sẽ huy động được nhiều vì lãi suất là yếu tố quan trọng nhưng chưa phải là duy nhất. Một Ngân hàng thực hiện công tác huy động vốn tiền gửi tốt sẽ là Ngân hàng biết xây dựng một chính sách lãi suất tiền gửi hợp lý, linh hoạt vừa đáp ứng được nhu cầu của người gửi tiền đồng thời c ng đảm bảo hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng. Một chính sách lãi suất được coi là hợp lý khi cầu sau: + Có thể giúp Ngân hàng huy động được đủ nguồn vốn cho hoạt động của Ngân hàng và đảm bảo có cơ cấu vốn hợp lý.
+ Đảm bảo tính cạnh tranh. + Đảm bảo lợi nhuận hợp lý cho Ngân hàng. + Phù hợp với chính sách lãi suất của NHTW và xu hướng lãi suất trên thị trường. Chính vì thế, chính sách lãi suất là một trong những chính sách quan trọng nhất trong những chính sách bổ trợ cho công tác huy động vốn tiền gửi của Ngân hàng.
Ngân hàng sử dụng hệ thống lãi suất như một công cụ quan trọng trong việc huy động vốn tiền gửi, thay đổi quy mô nguồn vốn tiền gửi thu hút vào Ngân hàng. 9 Thứ hai, chính sách marketing Như chúng ta đã biết, ngày nay khi mà khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, đời sống của con người ngày càng được cải thiện và nâng lên, khách hàng có nhiều cơ hội lựa chọn Ngân hàng mà họ coi là thuận tiện hơn chứ không đơn thuần là nơi cất trữ tiền tệ và kiếm lời từ lãi suất. Thực tế này đòi hỏi các Ngân hàng cần phải xây dựng một chiến lược marketing đúng đắn trong hoạt động huy động vốn nói chung và trong hoạt động huy động vốn tiền gửi nói riêng. Để làm được điều này, Ngân hàng cần tìm hiểu động cơ, thói quen, mong muốn của người gửi tiền, thậm chí là từng đối tượng khách hàng thông qua việc phân tích lợi ích của khách hàng.
Trên cơ sở những thông tin của khách hàng, Ngân hàng có thể đưa ra các chính sách marketing phù hợp. Trong quá trình hoạt động kinh doanh, Ngân hàng cần hiểu rõ lợi ích của Ngân hàng hoàn toàn phụ thuộc vào hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, vào lợi ích của người gửi tiền. Vì vậy, Ngân hàng phải có chính sách khách hàng đúng đắn và phải phù hợp với từng đối tượng khách hàng. Đó là duy trì, mở rộng khách hàng truyền thống đồng thời thu hút thêm các khách hàng mới, khách hàng tiềm năng, đảm bảo lợi ích cho cả Ngân hàng và khách hàng.
Chiến lược kinh doanh của Ngân hàng c ng phải nhằm giúp đỡ doanh nghiệp khắc phục những khó khăn, yếu kém, tạo mỗi quan hệ lâu dài. Ngân hàng chia khách hàng ra làm nhiều loại để có cách đối sử cho phù hợp. Những khách hàng lâu năm, có số dư tiền gửi lớn, được Ngân hàng tín nhiệm, thì Ngân hàng sẽ có chính sách ưu tiên về lãi suất, kỳ hạn món vay c ng như việc xét thưởng. Bên cạnh các chính sách khách hàng đối với những khách hàng đã đến với Ngân hàng thì chiến lược Marketing để thu hút thêm lượng khách hàng mới c ng cần phải đặc biệt quan tâm.
+ Thực hiện văn minh thương mại trong và ngoài ngân hàng, bố trí hợp lý nơi làm việc, tạo phong cách, thái độ phục vụ nhiệt tình, chu đáo với khách hàng theo phương châm “ Vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi”. + Tăng cường công tác quảng cáo, tiếp thị, khuyến mãi nhằm gia tăng thanh thế và thương hiệu, tạo tiền đề để thu hút khách hàng trong và ngoài nước. 10 + Thành lập tổ tư vấn khách hàng, về các vấn đề liên quan tới lĩnh vực tài chính, tiền tệ, nhất là giúp khách hàng thấy được gửi tiền vào Ngân hàng sẽ mang lại nhiều lợi ích hơn là việc tích trữ tiền trong nhà hay giữ vàng, ngoại tệ. Qua đó thu hẹp khoảng cách giữa Ngân hàng và khách hàng, tạo mối quan hệ thân thiện, tạo tiền đề cho Ngân hàng hoạt động ngày một tốt hơn.
Thứ ba, chính sách sản phẩm Sản phẩm: Sản phẩm ngân hàng là một hoạt động, một quá trình, một kinh nghiệm cung ứng bởi Ngân hàng và đã đến kết quả là đáp ứng được một nhu cầu và mong muốn nào đó của khách hàng. Chính sách sản phẩm của ngân hàng là toàn bộ những quyết định, những biện pháp nhằm làm cho sản phẩm của ngân hàng phù hợp với nhu cầu của khách hàng. Sự phù hợp của sản phẩm thể hiện ở mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội, phù hợp với đặc điểm của từng đối tượng khách hàng, khả năng thương mại hóa sản phẩm.