chương 1 luật doanh nghiệp 2014: Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, có tài sản và tên riêng, có trụ sở giao dịch ổn định, được cấp giấy đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật để thực hiện các hoạt động kinh doanh trên trị trường Quá trình kinh doanh thực hiện một cách liên tục, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích để sinh lợi. Như vậy doanh nghiệp là tổ chức kinh tế vị lợi, mặc dù thực tế một số tổ chức doanh nghiệp có các hoạt động không hoàn toàn nhằm mục tiêu lợi nhuận. Khái niệm kinh doanh Kinh doanh là một trong những hoạt động phong phú nhất của loài người. Hoạt động này thường được thông qua các thể chế như tập đoàn, công ty.
Nhưng cũng có thể là hoạt động tự thân của các cá nhân như sản xuất, buôn bán nhỏ kiểu hộ gia đình. Kinh doanh được coi là phương thức hoạt động kinh tế trong điều kiện tồn tại nền kinh tế hàng hoá. Gồm tổng thể những phương pháp, hình thức và phương pháp mà chủ thể kinh tế sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh tế của mình. Nó bao gồm quá trình đầu tư, sản xuất, vận chuyển, thương mại, tiếp thị….
Trên cơ sở vận dụng quy luật giá trị cùng với các quy luật khác, nhằm đạt mục tiêu vốn sinh lời tốt nhất. 7 Pháp luật ở nhiều nước trên thế giới sử dụng thuật ngữ “commerce” (kinh doanh/thương mại) theo nghĩa rộng dùng để chỉ một cách tổng hợp các hoạt động sản xuất, mua bán hàng hoá, dịch vụ. Đồng thời có sự phân biệt với thuật ngữ “trade” để chỉ riêng hoạt động mua bán hàng hoá thuần tuý. Ở Việt Nam, thuật ngữ kinh doanh được sử dụng trong Luật công ty, Luật doanh nghiệp tư nhân 1990.
Các hoạt động kinh doanh được nhận biết thông qua các dấu hiệu: ● Hoạt động phải mang tính nghề nghiệp, tức là chúng được tiến hành một cách chuyên nghiệp, liên tục, thường xuyên. Hoạt động này mang lại nhiều nguồn thu nhập chính cho người thực hiện chúng; ● Hoạt động cần phải được thực hiện một cách độc lập. Các chủ thể nhân danh mình để tiến hành các hoạt động kinh doanh. Họ tự quyết định mọi vấn đề liên quan và tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình; ● Hoạt động được các chủ thể tiến hành nhằm mục đích kiếm lời.
Theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam thì để thực hiện hoạt động kinh doanh, các chủ thể cần phải tiến hành đăng kí kinh doanh tại quan đăng kí kinh doanh. Hoạt động kinh doanh theo luật định, là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện trên thị trường nhằm mục đích sinh lời. Hoạt động kinh doanh có thể được tiếp cận theo nhiều cách khác nhau, chẳng hạn: Theo tính chất của hoạt động, chúng ta có hoạt động sản xuất (sản phẩm hoặc dịch vụ) và hoạt động thương mại. Theo bản chất kinh tế, chúng ta có các doanh nghiệp công nghiệp, thương nghiệp, nông nghiệp, tài chính… 1.
Khái niệm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng của các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh trong đó doanh nghiệp nhằm thu hút được kết quả cao nhất với một chi phí thấp nhất. Hiệu quả kinh doanh không chỉ là thước đo trình độ tổ chức quản lý kinh doanh mà hiệu quả kinh doanh là vấn đề sống còn đối với mỗi doanh nghiệp. Hiện nay có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, xuất phát từ góc độ nghiên cứu khác nhau về vấn đề hiệu quả kinh doanh và sự phát triển của ngành quản trị kinh doanh. Sau đây chúng ta xem xét một vài quan điểm về khái niệm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp: Quan điểm thứ nhất là quan điểm của nhà kinh tế học người Anh Adam Smith theo ông: “Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế doanh thu tiêu thụ hàng hóa” Ở đây, hiệu quả kinh doanh được ông đồng nhất chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Rõ ràng quan điểm này khó giải thích kết quả xác định sản xuất kinh doanh có thể tăng do chi phí mở rộng sử dụng các nguồn sản xuất. Nếu 8 cùng một kết quả nhưng có hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này chúng tôi có cùng một mức hiệu quả. Quan điểm thứ hai cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh là quan hệ tỷ lệ giữa phần tăng thêm của phần kết quả và phần tăng thêm của chi phí”. Quan điểm này biểu hiện được quan hệ so sánh tương đối giữa kết quả đạt được và chi phí tiêu hao.
Nhưng xét trên quan điểm triết học của Mác – Lênin thì sự vật và hiện tượng đều có mối quan hệ ràng buộc hữu cơ tác động qua lại lẫn nhau chứ không tồn tại một cách riêng rẽ độc lập, hơn nữa sản xuất kinh doanh là một quá trình trong đó các yếu tố tăng thêm có quan hệ chặt chẽ mật thiết với các yếu tố sẵn có, chúng trực tiếp hoặc gián tiếp tác động làm kết quả kinh doanh chỉ được xét tới phần kết quả bổ sung và chi phí bổ sung. Quan điểm thứ 3 cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh được đo bằng hiệu số giữa kết quả và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó”. từ điểm của quan điểm này phản ánh được mối quan hệ bản chất hiệu quả kinh tế nó gắn được kết quả với toàn bộ chi phí coi hiệu quả kinh doanh là sự phản ánh trình độ sử dụng các chi phí. Tuy nhiên, quan điểm này chưa biểu hiện hết được sự quan trọng về lượng và chất giữa kết quả và chi phí và chưa phản ánh hết được mức độ chặt chẽ của mối quan hệ này để phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực, chúng ta cần phải cố định một trong hai yếu tố hoặc kết quả kinh doanh đạt được hoặc chi phí kinh doanh bỏ ra.
Nhưng theo quan điểm của Chủ nghĩa mác-lênin thì các yếu tố này không ở trong trạng thái tĩnh mà luôn vận động biến đổi. Quan điểm thứ tư cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh là mức độ thỏa mãn yêu cầu quy luật cơ bản của Chủ nghĩa xã hội cho rằng quỹ tiêu dùng với tư cách là chỉ tiêu đại diện cho mức sống của mọi người trong doanh nghiệp” quan điểm này có ưu điểm là bám sát mục tiêu của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân trong khó khăn, ở đây là phương tiện đo lường thể hiện tư tưởng định giường đó đời sống nhân dân nói chung và mức sống nói riêng rất đa dạng và phong phú xác định được mức độ thỏa mãn nhu cầu hai bức đội nâng cao đời sống là điều khó khăn Đứng trên góc độ nền kinh tế quốc dân: “Hiệu quả kinh doanh là chỉ tiêu kinh tế xã hội tổng hợp để lựa chọn các phương án hoặc các quyết định trong quá trình hoạt động thực tiễn ở mọi lĩnh vực kinh doanh và tại mọi thời điểm bất kì các quyết định cần đạt được phương án tốt nhất trong điều kiện cho phép giải pháp thực hiện có tính cân nhắc tính toán chính xác phù hợp với sự tất yếu của quy luật khách quan trong điều kiện cụ thể” để theo quan điểm này hiệu quả ở đây hiểu theo một số nội dung sau: ● Hiệu quả là kết quả hoạt động thực tiễn của con người. ● Biểu hiện của kết quả hoạt động này là các phương án quyết định. 9 ● Kết quả tốt nhất trong điều kiện cụ thể.
Để để làm sáng tỏ bản chất và đi đến một khái niệm hiệu quả kinh doanh hoàn chỉnh chúng ta phải xuất phát từ luận điểm của triết học mác-lênin và những luận điểm của lý thuyết hệ thống hiệu quả kinh doanh chủ yếu được thẩm định bởi thị trường là tiêu chuẩn xác định phương hướng hoạt động của doanh nghiệp như vậy hiệu quả kinh doanh phản ánh trình độ của nguồn lực bao gồm nhân lực tài lực và vật Lực vào hoạt động sản xuất kinh doanh để có được kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất. Từ khái niệm ở trên ta có thể đưa ra được công thức hiệu quả: ế ả đầ Hiệu quả kinh doanh (H) = ồ ự đầ à Kết quả đầu ra trong kinh doanh được đo bằng các chỉ tiêu như giá trị tổng sản lượng doanh thu thuần lợi nhuận thuần. Còn nguồn lực đầu vào bao gồm lao động phải đối tượng lao động vốn cách đánh giá này phản ánh việc sử dụng một đơn vị nguồn lực tạo ra được bao nhiêu kết quả đầu ra. Khi H Càng lớn chứng tỏ quá trình kinh doanh càng đạt hiệu quả 1.
Nội dung hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 1. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh. Nâng cao hiệu quả kinh doanh là một việc làm quan trọng của các nhà quản trị trong bất cứ doanh nghiệp nào. Nó quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp.
Hiệu quả kinh doanh là công cụ quản trị kinh doanh. Để tiến hành một hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng đều phải tập hợp các phương tiện vật chất cũng như con người và thực hiện sự kết hợp giữa lao động với các yếu tố vật chất để toạ ra kết quả phù hợp với ý đồ của doanh nghiệp và từ đó có thể tạo ra lợi nhuận. Như vậy, mục tiêu bao trùm lâu dài của kinh doanh là tạo ra lợi nhuận, tối đa hoá lợi nhuận trên cơ sở những nguồn lực sản xuất sẵn có. Để đạt được mục tiêu này quản trị doanh nghiệp phải sử dụng nhiều phương pháp khác nhau.
Hiệu quả kinh doanh là một trong những công cụ để các nhà quản trị thực hiện chức năng quản trị của mình. Việc xem xét và tính toán hiệu quả kinh doanh không những chỉ cho biết việc sản xuất đạt được ở trình độ nào mà còn cho phép các nhà quản trị phân tích, tìm ra các nhân tố để đưa ra các biện pháp thích hợp trên cả hai phương diện tăng kết quả và giảm chi phí kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh. Sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai sẽ không thành vấn đề bàn cãi nếu nguồn tài nguyên không hạn chế.