CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Lý luận về động lực và tạo động lực cho người lao động 1.1 Động lực làm việc 1.1 Khái niệm Con người trước khi làm bất cứ việc gì đều đặt ra cho những câu hỏi để bản thân tự trả lời, chẳng hạn như: Tại sao lại làm công việc đó ? Làm công việc đó để làm gì ? Nó có lợi như thế nào ? Và người lao động cũng vậy, trước khi họ lựa chọn một doanh nghiệp nào đó để làm việc thì họ liên tục đưa ra những câu hỏi cho bản thân. Những việc mình làm phải mang lại lợi ích và đáp ứng được nhu cầu cho bản thân, việc xác định được những câu hỏi như thế sẽ giúp họ có động lực để làm việc hơn. Động lực được hiểu theo nhiều cách khác nhau nhưng nhìn chung đều có những điểm tương đồng nhau. Động lực được hiểu là cái thúc đẩy, làm cho phát triển.
Theo Bùi Anh Tuấn: “ Động lực là nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực lao động trong những điều kiện cho phép nhằm tạo ra năng suất, hiệu quả cao.” [7, trang 98] Theo Nguyễn Văn Điềm và Nguyễn Ngọc Quân: “Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của con người nhằm tăng cường sự nỗ lực để đạt được mục đích hay một kết quả cụ thể.” [2, trang 134] Theo Mitchell thì động lực là một mức độ mà một cá nhân muốn đạt tới và lựa chọn để gắn kết các hành vi của mình. Một cách nói khác về động lực, Bolton cho rằng động lực được định nghĩa như một khái niệm để mô tả các yếu tố được các cá nhân nảy sinh, duy trì và điều chỉnh hành vi của mình theo hướng đạt được mục tiêu. SVTH: Lê Thị Phin 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.Hoàng Quang Thành Động lực là sự thôi thúc từ bên trong mỗi con người lao động, thúc đẩy con người hoạt động. Như vậy, có nhiều cách tiếp cận khác nhau về động lực nhưng đều nói lên bản chất của động lực là những gì kích thích con người hành động để đạt tới mục tiêu nào đó.
Mục tiêu của người lao động đặt ra một cách có ý thức được phản ánh bởi động cơ của người lao động và quyết định hành động của họ. Khi nói về động lực của người lao động trong tổ chức, các nhà quản lý thường thống nhất những vấn đề sau: + Động lực gắn liền với công việc, với tổ chức và môi trường làm việc, không có động lực chung chung, không gắn với công việc cụ thể nào. Động lực lao động được thể hiện thông qua những công việc cụ thể mà người lao động đang đảm nhận và thái độ của họ đối với tổ chức. Mỗi người lao động đảm nhận mỗi công việc khác nhau nên có thể sẽ có những động lực làm việc khác nhau để làm việc tích cực hơn.
Vì vậy, động lực phải được gắn liền với công việc, tổ chức và với môi trường làm việc cụ thể. + Động lực không phải là đặc điểm tính cách cá nhân, cho nên nó có nghĩa là không có người có động lực và người không có động lực. Động lực có thể thay đổi thường xuyên và liên tục phụ thuộc vào các yếu tố khách quan của công việc. Tại thời điểm này, có thể người lao động có động lực làm việc rất cao tuy nhiên ở một thời điểm khác động lực làm việc có thể sẽ không còn trong họ.
+ Trong trường hợp, các yếu tố khác không thay đổi, động lực sẽ dẫn tới năng suất và hiệu quả công việc cao hơn. Tuy nhiên, không nên khẳng định rằng động lực là yếu tố tất yếu dẫn tới năng suất và hiệu quả công việc, bởi sự thực hiện công việc không chỉ phụ thuộc vào động lực làm việc mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như: khả năng của người lao động, phương tiện và các nguồn lực để thực hiện công việc. SVTH: Lê Thị Phin 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.Hoàng Quang Thành + Người lao động nếu không có động lực vẫn hoàn thành được công việc. Tuy nhiên, người lao động nếu mất động lực hoặc giảm động lực sẽ có xu hướng ra khỏi tổ chức.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của người lao động Trong bất cứ tổ chức nào thì vấn đề sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực cũng luôn là vẫn đề cốt lõi.
Do vậy, các nhà quản lý luôn phải tìm ra những chính sách, những cách thức khác nhau để tạo động lực làm việc cho nhân viên của mình. Để có thể đưa ra một quyết định đúng đắn nhà quản lý cần phải nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên. Để đánh giá các yếu tố tác động đến động lực thì có nhiều cách phân chia khác nhau tuỳ thuộc vào góc độ nhìn nhận vấn đề của từng người vào từng hoàn cảnh cụ thể. Theo như học thuyết nhu cầu của Maslow các yếu tố tác động đến động lực lao động gồm ba nhóm cơ bản.
Nhóm thứ nhất là các yếu tố đem đến sự thoả mãn về vật chất như: tăng lương, tăng thưởng, tăng các quyền lợi…. Nhóm thứ hai là các yếu tố đem đến sự thoả mãn về tinh thần như: Công việc ổn đinh, tự chủ, tự quyết trong công việc, tự do tham gia các quan hệ xã hội… Nhóm thứ ba là các yếu tố có thể thoả mãn cả nhu cầu vật chất và tinh thần như: Những hứa hẹn về một tương lai, những cam kết về chương trình đào tạo và phát triển…. Theo học thuyết công bằng của Stacy Adams thì yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất đến động lực làm việc là sự công bằng giữa quyền lợi đạt được và những đóng góp của mọi người trong tổ chức. Tuy nhiên, dù xét ở khía cạnh nào đi nữa thì chúng ta không thể phủ nhận các học thuyết khi nói đến các yếu tố ảnh hưởng đến tạo động lực đều xoay quanh 3 yếu tố cơ bản sau đây: Cá nhân người lao động Công việc đảm nhận Môi trường tổ chức SVTH: Lê Thị Phin 9 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.Hoàng Quang Thành Các yếu tố thuộc về cá nhân người lao động Mỗi con người đều sinh ra trong môi trường khác nhau và họ có cách nhìn nhận về cuộc sống khác nhau cho nên động lực của họ sẽ khác nhau.
Có người tự biết tạo cho mình động lực cao hơn người khác. Họ biết cách tự điều chỉnh hành vi của mình sao cho tốt nhất, họ biết tự đặt mục tiêu thách thức đối với mình. Họ luôn luôn phấn đấu vì mục tiêu đặt ra, biết tự điều chỉnh cảm xúc vui buồn, những khi gặp khó khăn hay vấp ngã họ có thể tự tìm con đường mới, gượng dậy và tiếp tục bước tiếp mà không cần đến sự giúp đỡ của người khác. Tuy nhiên có những người sinh ra đã thích sống cuộc sống an nhàn và hờ hững với những khó khăn trong cuộc sống cũng như công việc.
Trong công việc họ không thích làm những công việc có sự thách thức, áp lực cao, những công việc không đòi hỏi phải thật cố gắng để đạt được mục tiêu. Do đó, công việc nào mà có sự thách thức với họ sẽ không có tác dụng tạo động lực cho họ. Những người này do đặc tính cá nhân đã thích sự bình lặng, cứ hàng tháng nhận được những đồng lương mà họ cho là xứng đáng là họ toại nguyện, thỏa mãn. Nghiên cứu về đặc điểm cá nhân để ta thấy rằng cần phải bố trí người lao động như thế nào để họ có thể phát huy được hiệu quả làm việc cao nhất.
Trong tổ chức có những công việc có tác dụng tạo động lực mạnh cho người lao động, nhưng cũng có những công việc có tính tạo động lực thấp. Vấn đề đặt ra là phải bố trí làm sao cho phù hợp giữa người lao động và công việc để tạo được động lực lớn nhất. Nói tóm lại, đặc tính cá nhân có ảnh hưởng rất lớn tới động lực làm việc của người lao động. Ngoài ra thì đặc điểm công việc cũng có sức ảnh hưởng rất lớn tới động lực làm việc của người lao động.
Các yếu tố thuộc về công việc đảm nhận Về đặc điểm công việc cần xem xét ở ba khía cạnh sau: SVTH: Lê Thị Phin 10 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.Hoàng Quang Thành + Tính chất công việc: Có tác động rất lớn đến cách thức tạo động lực cho người lao động. Công việc ổn định hay công việc được yêu thích hoặc công việc phức tạp hay công việc nhàn rỗi… là những yếu tố có ảnh hưởng mạnh đến động lực làm việc của người lao động. Trong hệ thống các công việc có những nhóm công việc mang tính chất lặp đi lặp lại nhưng cũng có nhóm công việc đòi hỏi sự nhanh nhẹn, luôn luôn nỗ lực, sáng tạo và có tính chất đổi mới. Những công việc mang tính chất lặp đi lặp lại thường là những công việc liên quan nhiều đến sổ sách, giấy tờ, mang tính chất hành chính, thủ tục… Những công việc này thường không tạo hứng thú làm việc đối với người lao động có tính linh hoạt, nhạy bén, thích nơi làm việc sôi nổi do đó khả năng thu hút lao động rất hạn chế,.
Những công việc đòi hỏi sự nhanh nhẹn, nỗ lực làm việc cao như công việc quản lý, giám đốc, chuyên viên cấp cao…. Là những công việc mà chính bản thân nó có sự thu hút, tạo hứng thú cho người lao động khi làm những công việc này. Người lao động cảm thấy có động lực mạnh mẽ để trở thành chuyên viên cấp cao hay trở thành giám đốc… những công việc mang tính chất như thế này thường tạo động lực làm việc cho người lao động rất lớn. + Vị trí và khả năng phát triển nghề nghiệp: Bên cạnh tính chất công việc thì vị trí công việc và khả năng phát triển nghề nghiệp là vấn đề người lao động quan tâm hàng đầu.
Một công việc không được người khác coi trọng, không có khả năng phát triển thì chắc chắn không thể tạo động lực cho người lao động. Một công việc hấp dẫn, tạo cơ hội tốt cho người lao động hoàn thiện tay nghề, nâng cao trình độ chuyên môn, công việc được nhiều người coi trọng, được xã hội đề cao thì chắc chắn có ảnh hưởng rất lớn tới động lực làm việc của người lao động đảm nhiệm công việc đó. SVTH: Lê Thị Phin 11 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.