LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Nhân lực đã ngày càng khẳng định vai trò, vị trí rất lớn trong mọi tổ chức. Bất kỳ một tổ chức nào cũng cần có con người là đầu nguồn của mọi hoạt động. Nhưng muốn nguồn nhân lực phát huy hết năng lực của chính họ, nhiệt tình, tận tụy với nghề, năng suất lao động cao thì hoạt động tạo động lực vô cùng quan trọng.
Hệ thống Kho bạc Nhà nước - cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý nhà nước về quỹ ngân sách, các quỹ tài chính và các quỹ khác của Nhà nước cũng không phải là ngoại lệ. Những năm gần đây, vai trò của hệ thống Kho bạc Nhà nước trong nền hành chính công của Quốc gia ngày càng được đánh giá cao, đặc biệt trong công tác quản lý quỹ Ngân sách nhà nước, thực hiện tổng kế toán Nhà nước. Nhân tố quyết định cho sự phát triển đó của hệ thống Kho bạc Nhà nước là đội ngũ cán bộ công chức. Tuy nhiên, trên thực tế tại Kho bạc Nhà nước nói chung và Kho bạc Nhà nước Nghệ An nói riêng, chỉ mới chủ yếu tập trung vào công tác đổi mới và cải cách thủ tục hành chính, chưa thực sự chú trọng nhiều đến công tác tạo động lực cho đội ngũ công chức của đơn vị.
Nên vẫn còn tình trạng đội ngũ công chức chưa thực sự tâm huyết với công việc, còn tư tưởng ỷ lại, xung đột lợi ích, làm việc hời hợt, cứng nhắc… Đứng trước thực trạng đó, tôi quyết định chọn đề tài “Tạo động lực làm việc cho công chức tại Kho bạc Nhà nước Nghệ An” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Hiệu quả làm việc của đội ngũ công chức tại đơn vị hành chính sự nghiệp nói chung phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như khả năng, năng lực của công chức, phương tiện và các nguồn lực để thực hiện công việc và động lực lao động… Trong đó, động lực lao động là một yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến sự thúc đẩy công chức hăng hái, say mê và nỗ lực làm việc. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả làm việc của công chức, yêu cầu đặt ra đối với các nhà quản lý đơn vị đó là phải quan tâm đến công tác thúc đẩy động cơ làm việc cho cán bộ công chức, kích thích họ làm 2 việc tốt hơn, tạo ra được hiệu quả làm việc. Chính vì lẽ đó đã có nhiều đề tài, công trình nghiên cứu cấp Bộ, luận án, luận văn và nhiều tác phẩm đăng trên tạp chí nghiên cứu về tạo động lực cho cán bộ công chức dưới nhiều góc độ khác nhau như: (1) Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Đình Lý, chuyên ngành Quản lý kinh tế (Khoa học quản lý), Trường Đại học Kinh tế Quốc dân với đề tài Chính sách tạo động lực cho cán bộ công chức cấp xã (Nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Nghệ An) (bảo vệ năm 2012) đã chỉ ra được đặc điểm khác biệt trong động lực của cán bộ công chức cấp xã so với người lao động nói chung, là chịu sự chi phối của các yếu tố tinh thần như sự công nhận, thành đạt, cơ hội phát triển, từ đó đề xuất các giải pháp hữu hiệu trong tạo động lực cho cán bộ công chức cấp xã ở địa bàn Tỉnh Nghệ An.
Tuy nhiên, luận án còn hạn chế ở mô hình nghiên cứu còn chung chung, số lượng và quy mô mẫu điều tra chưa có căn cứ cụ thể, chưa xác định từng đối tượng khác nhau của cán bộ công chức cấp xã như: giới tính, trình độ, thâm niên công tác… nên chưa thấy được điểm khác biệt trong động lực làm việc của các đối tượng cụ thể. (2) Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Phương Lan, chuyên ngành Quản lý công, Học Viện Hành chính Quốc gia với đề tài Hoàn thiện hệ thống công cụ tạo động lực cho công chức ở các cơ quan hành chính nhà nước đề tài xác định cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn của yêu cầu cấp thiết phải đồng bộ hóa, hệ thống hóa khi áp dụng các công cụ tạo động lực để công tác quản lý nhân sự, tạo động lực cho công chức HCNN đạt hiệu quả thực sự. Bên cạnh đánh giá các công cụ tạo động lực bằng khuyến khích vật chất và khuyến khích phi vật chất. Từ đó, xác định các công cụ tạo động lực trong toàn hệ thống còn rời rạc, thiếu liên kết nên đã không tạo ra tính hợp trội cho hệ thống, không có công cụ nào nổi lên như là công cụ trung tâm hiệu quả để cấu trúc các công cụ khác xoay quanh công cụ đó, làm cho tính hợp trội được phát huy nên đã hạn chế rất nhiều trong tạo động lực cho công chức HCNN.
(3) Luận án Tiến sĩ của tác giả Vũ Thị Uyên, với đề tài Thực trạng và giải pháp nhằm tạo động lực cho lao động quản lý trong các doanh nghiệp nhà nước ở Hà Nội đến năm 2020 (bảo vệ năm 2006) đã rút ra thực trạng về động lực làm việc của cán bộ quản lý trong các doanh nghiệp nhà nước ở Hà nội, trong đó có nhân tố 3 về mối quan hệ với đồng nghiệp, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm tạo động lực làm việc cho đối tượng này. Đặc biệt, luận án đã chỉ ra những hạn chế, tồn tại trong các doanh nghiệp nhà nước như: cơ cấu doanh nghiệp còn cồng kềnh, cách thức làm việc còn quan liêu, cửa quyền, tuyển dụng bố trí nhân sự còn thiếu tính khoa học, chưa hợp lí và thù lao lao động còn chưa mang tính khuyến khích. (4) Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Phương Dung, với đề tài Động cơ làm việc của nhân viên khối văn phòng ở Việt nam, Trường Đại học kinh tế TP Hồ Chí Minh (bảo vệ năm 2016) đã xác định được những yếu tố thuộc về văn hóa làm cản trở quá trình thúc đẩy động cơ làm việc và yếu tố thuộc về tâm lý lại có vai trò quan trọng trong quá trình thúc đẩy động cơ và kết quả hành vi của nhân viên. Đồng thời đã đề xuất mô hình động cơ làm việc căn cứ nghiên cứu sau này.
Như vậy, tính đến nay đã có rất nhiều các đề tài về tạo động lực cho đội ngũ công chức nhưng chưa có công trình, đề tài nào nghiên cứu về tạo động lực cho đội ngũ công chức tại Kho bạc Nhà nước Nghệ An. Chính vì vậy, lựa chọn đề tài nghiên cứu này là sự cấp thiết cả về vấn đề lý luận cũng như thực tiễn. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu - Mục tiêu nghiên cứu: Mục tiêu chung: Đề xuất các giải pháp tạo động lực làm việc cho đội ngũ công chức tại Kho bạc Nhà nước Nghệ An. Mục tiêu cụ thể: + Phân tích được thực trạng động lực làm việc của đội ngũ công chức tại Kho bạc Nhà nước Nghệ An.
+ Đánh giá được thực trạng tạo động lực làm việc cho đội ngũ công chức tại Kho bạc Nhà nước Nghệ An. + Phân tích được các nhân tố ảnh hưởng đến công tác tạo động lực làm việc cho đội ngũ công chức tại Kho bạc Nhà nước Nghệ An. + Đề xuất các giải pháp tạo động lực làm việc cho đội ngũ công chức tại Kho bạc Nhà nước Nghệ An. - Nhiệm vụ nghiên cứu: 4 (1) Hệ thống hóa cơ sở lý luận về động lực và tạo động lực làm việc của đội ngũ công chức tại Kho bạc Nhà nước Nghệ An.
(2) Phân tích, đánh giá thực trạng động lực và tạo động lực làm việc của đội ngũcông chức tại Kho bạc Nhà nước Nghệ An. (3) Kiến nghị các giải pháp tạo động lực làm việc cho đội ngũ công chức tại Kho bạc Nhà nước Nghệ An. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Công tác tạo động lực làm việc cho công chức tại Kho bạc Nhà nước Nghệ An. - Phạm vi nghiên cứu: + Không gian: Đề tài nghiên cứu tại Kho bạc Nhà nước Nghệ An.
+ Thời gian: Nguồn số liệu để phân tích thực trạng lấy trong khoảng thời gian 2016 đến 2018. Giải pháp đề xuất và khuyến nghị cho giai đoạn 2019-2025. Phƣơng pháp nghiên cứu 5. Phƣơng pháp nghiên cứu tại bàn Tác giả thu thập số liệu từ các báo cáo tổng kết cuối năm của đơn vị, các báo cáo, số liệu tại các bộ phận phòng ban trong Kho bạc Nhà nước Nghệ An.
Ngoài ra, còn thu thập các tài liệu, đề tài nghiên cứu, bài báo… về tình hình hoạt động của Kho bạc Nhà nước nói chung và Kho bạc Nhà nước Nghệ An nói riêng. Tổng hợp các nghiên cứu chính thức từ các sách, giáo trình, tài liệu chuyên khảo về động lực và tạo động lực. Từ đó hệ thống hóa các tài liệu, đưa vào phân tích và tổng hợp thành các báo cáo, nhận định về tạo động lực của Kho bạc Nhà nước Nghệ An. Phƣơng pháp điều tra bằng bảng hỏi Mục đích của phương pháp này là nhằm tìm kiếm, thu thập thông tin, giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là đánh giá thực trạng động lực của công chức tại đơn vị cũng như hiệu quả sử dụng, tìm kiếm giải pháp hoàn thiện hệ thống công cụ tạo động lực hiện nay tại Kho bạc Nhà nước Nghệ An.
Theo đó, từ khung lý thuyết về động lực và hệ thống công cụ tạo động lực, tác giả dự định xây dựng phiếu điều tra bằng bảng hỏi, tiến hành kiểm định bảng hỏi 5 bằng phỏng vấn chính thức trực tiếp. Đối tượng điều tra là đội ngũ công chức trong Kho bạc Nhà nước Nghệ An. Theo Trung Tâm Thông tin và phân tích dữ liệu Việt Nam (VIDAC) cỡ mẫu điều tra được xác định theo công thức sau: Với n là cỡ mẫu, N là số lượng tổng thể, e là sai số tiêu chuẩn. N n= 1+ N (e)2 Tổng số cán bộ công chức tại Kho bạc Nhà nước Nghệ An là 364 người.
Thì số lượng mẫu dự kiến là: n = 364/(1+364*(5%)2) = 191 phiếu. Cách thức thu thập phiếu điều tra như sau: Từ khung lý thuyết về tạo động lực, tác giả xây dựng phiếu điều tra bằng bảng hỏi, tiến hành kiểm định phiếu điều tra bằng phỏng vấn thử 30 người, sau đó tiếp tục hoàn thiện bảng hỏi cho phù hợp, xây dựng lại phiếu điều tra hoàn chỉnh trước khi thực hiện phỏng vấn chính thức. Phương pháp chọn mẫu chủ yếu là kết hợp chọn mẫu phân tầng và chọn mẫu ngẫu nhiên.