Chương I TỔNG QUAN VỀ TÀI PHÁN LAO ĐỘNG 1. KHÁI NIỆM TÀI PHÁN LAO ĐỘNG 1. Thuật ngữ "tai phan" Tài phán là một từ Hán - Việt. Thông thường người ta có thể hình dung một cách khá đầy đủ về ý nghĩa của nó.
Tuy nhiên, đây lại là một từ ít được dùng trong thực tế, kể cả trong các tài liệu liên quan đến các chuyên ngành khoa học pháp lý. Trong một số tài liệu, từ "tài phán” được sử dụng với một mức độ hạn chế. Sau đây là một số ví dụ: - Từ điển tiếng Việt [46], tài phán được hiểu là sự phân định phải trái. - Trong cuốn "Từ điển từ và ngữ Việt Nam" [44], Giáo sư Nguyễn Lân cho rang, "tài" tức là "phân xử" còn "phán" tức là "xét định" vì thế đã định nghĩa "tai phan" là sự "xét hỏi và phân xử phải trai”.
- Trong cuốn "Từ điển tiếng Việt" của tác giả Phan Canh [16], tài phán được hiểu là "phân xử, xét xử". - Từ điển pháp luật Anh - Việt [122] có ghi ba từ và tập hop từ có dé cập đến thuật ngữ " tài phán" như: "Judicial committee of Privy council" ("Ủy ban tư vấn tài phán cho Nữ Hoang"); "Judicial discretion"( "quyền thẩm định tài phán”); "Jurisdiction"( "thẩm quyền, phán quyền"). - Giáo trình luật Hành chính của Trường Đại học Luật Hà Nội, tại Chương XII có tiêu dé: "Tài phán hành chính và luật tố tụng hành chính” cho rằng tố tụng hành chính là hình thức tài phán hành chính, được sử dụng để giải quyết các vụ kiện hành chính tại TAND [121]. Điều này cũng thống nhất với nội dung khoa học của cuốn "Tai phán hành chính so sánh” của tác giả Dinh Van Minh, giảng viên Học viện Hành chính Quốc gia [45].
- Giáo trình Luật quốc tế của Trường Đại học Luật Hà Nội (1997) có đề cập đến một "biện pháp tư pháp" là dùng Trọng tài để giải quyết các phân tranh quốc tế đồng thời cho rằng luật quốc tế để cao và đòi hỏi tôn trọng nguyên tác "quyền tài phán của quốc gia" trong các mối quan hệ quốc tế [119]. - Giáo trình Tư pháp quốc tế của Trường Đại học Luật Hà Nội (1999) cũng đề cập đến “quyền tài phan" như là một quyền nang trong việc quyết định về các vụ tranh chấp [120]. - Báo Pháp luật của Bộ Tư pháp số 19 (1301) ngày 2/2/2001 có đăng bài “Pháp luật và chính sách thương mại Hoa kỳ” của tác giả Xuân Hoa cũng dành một phần nội dung đề cập đến "các thiết chế tai phán va nửa tài phan" trong việc đưa ra các quyết định trong lĩnh vực thương mại như: Tòa án thương mại Hoa kỳ, Tòa án thương mại quốc tế. - Thuật ngữ "tài phán” được nhắc đến trong Sắc lệnh số 13 ngày 24/1/1946 của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa [22].
Sắc lệnh đã được ban hành nhằm quy định về "đặc quyền tài phán" của các Tham phán. Theo quy định tại Điều 75 của Sac lệnh, "không ai có thể bat bd, giam cầm một Thẩm phán bất cứ vì lẽ gì, nếu không được Bộ trưởng Bộ Tư pháp thỏa thuận trước”. - Về vấn dé này, Thạc sĩ Nguyễn Văn Quang, Giảng viên trường Dai học Luật Hà Nội cho rang: "Tai phán là sự phán quyết của Nhà nước về tính hợp pháp đúng đắn trong cách hành xử của các chủ thể trong xã hội, cũng như các biện pháp xử lý thích hợp áp dụng đối với các chủ thể này nhằm đảm bảo cho pháp luật được tôn trọng thực hiện” [57]. Mặc dù được các tài liệu khác nhau sử dụng trong những chuyên ngành khác nhau nhưng nhìn chung, có thể hiểu "tài phán" ở một số khía cạnh căn bản sau đây: Thứ nhất, về mặt bản chất, tài phán là sự xét xử, phân định phải trái.
Cách hiểu này giúp ta hiểu được thực chất của các hoạt động tài phán diễn ra trong xã hội. Thứ hai, xét về mặt xã hội, tài phán là một hiện tượng xã hội trong đó, các chủ thể tài phán thực hiện quyền tài phán nhằm phân định vẻ tính đúng dan trong hành vi của các bên tranh chấp. Hiện tượng này là một hiện tượng pho biến trong xã hội vì nó phát sinh trên cơ sở những nhu cầu của việc xác lập và duy trì các quan hệ xã hội. Thứ ba, xét về mặt hành vi, tài phán là hoạt động phán quyết theo thẩm quyền luật định của một chủ thể nhất định nhằm phân định về tính đúng đán và hợp pháp của một vụ việc xảy ra trong xã hội theo yêu cầu của các bên.
Hành vi tài phán tạo ra hậu quả pháp lý ràng buộc đối với các bên liên quan. Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng, chủ thể thứ ba thực hiện hành vi tài phán nói trên phải là một chủ thể có tính trung lập, độc lập với các bên trong vụ việc được dua ra giải quyết. Thứ tu, xét về khía cạnh thể chế, tai phán được hiểu là tổng hợp các quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phán quyết các vụ tranh chấp hoặc các vụ việc khác thuộc các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Thứ năm, tài phán còn được nhìn nhận dưới góc độ là một loại quan hệ pháp lý giữa một bên là các bên tranh chấp và một bên là các chủ thể thực hiện quyền tài phán nhằm phân định tính hợp pháp và đúng đắn trong hành vi của các bên tranh chấp.
Việc phân định đó phải dựa trên các quy định của pháp luật về tài phán. Và chính vì tài phán được thực hiện trên cơ sở các quy định của pháp luật nên các phán quyết của các chủ thể tài phán luôn được Nhà nước bảo hộ. Trên cơ sở sự phân tích nói trên, có thể rút ra một định nghĩa về tài phán như sau: Tài phán là tổng hợp các quy định của pháp luật, theo đó, các chủ thể có thẩm quyền tiến hành các hoạt động để phân định tính hợp pháp, đúng dan trong hành vi của các bên tranh chấp nhằm bdo vệ quyền, lợi ích của các bên tranh chấp, của Nhà nước và xã hội. Tai phan lao động 11.
Khát niêm tai phán lao động TPLĐ, như các loại tài phán khác, là một hình thức tài phán trong xa hội, thuộc về lĩnh vực lao động xã hội. TPLĐ được hiểu là toàn bộ các hoạt động của các chủ thể mang quyền lực pháp lý nhằm giải quyết các tranh chấp lao động, các cuộc đình công và các việc khác phát sinh trong quá trình lao động, mà theo đó, các chủ thể có thẩm quyền sẽ ra các phán quyết để phân định tính hợp pháp và đúng đắn trong hành vi của các chủ thể. Từ khi xuất hiện quan hệ lao động, nhất là từ khi nảy sinh các tranh chấp lao động, người ta đã thiết kế nên những biện pháp khác nhau để giải quyết chúng. TPLĐ, vì vậy, ra đời từ yêu cầu của việc giải quyết các vấn đề lao động, trong đó, bên cạnh việc sử dụng tài phán để giải quyết các tranh chấp lao động, người ta còn sử dụng tài phán như là một phương thức hữu hiệu để giải quyết các cuộc đình công và bế xưởng trong lĩnh vực công nghiệp [59].
Theo luật sư Michael Schoden thuộc Liên hiệp các Công đoàn Đức, "TPLD là một lĩnh vực của tài phán, gồm những tranh chấp nay sinh từ luật lao động thông qua luật TPLĐ" [61]. Theo quan điểm này, TPLĐ được khẳng định là một hình thức tài phán, bên cạnh các hình thức tài phán khác trong xã hội. Nhiệm vụ của TPLD là giải quyết các tranh chấp nay sinh trong quá trình áp dụng pháp luật lao động vào thực tiễn thông qua các quy định của pháp luật về TPLĐ. Chính nhiệm vụ đó của TPLĐ đã giúp ta phần nào phân biệt được TPLĐ và tố tụng lao động.
Quá trình tố tụng lao động là quá trình diễn ra các hoạt động của các chủ thể có tư cách pháp lý khác nhau tại TAND như: HĐXX, thư ký toà án, VKSND, các đương sự, nhân chứng, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người giám định, người phiên dịch thì TPLĐ là quá trình diễn ra các hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền tài phán như: HDTT và TAND, những chủ thể mang thẩm quyền tài phán. II Theo đánh giá của các học giả trên thế giới thì TPLĐ là một hình thức tài phán đặc biệt. Tính chất đặc biệt đó thể hiện ở một số khía cạnh sau đây: Thứ nhất: TPLD là hình thức tài phán gắn liền với một lĩnh vực đặc biệt trong xã hội - lĩnh vực lao động. Đây là lĩnh vực diễn ra việc sử dụng lao động sống của con người, trong đó hiện diện quyền điều khiển của người chủ trên nền tảng kỷ luật lao động, cái mà trong quá trình thuê dịch vụ đân sự không thể tồn tại.
Thứ hai: TPLD không chỉ liên quan đến các bên của mối quan hệ lao động mà còn có sự tham gia của đại diện của các bên trong mối quan hệ lao động đó như: tổ chức đại diện của những người sử dụng lao động và tổ chức Công đoàn của những người lao động. Theo cấu trúc truyền thống được các nước trên thế giới sử dụng thì TPLĐ là một thực thể ba bên [137] gồm các đại điện: Nhà nước - giới lao động và giới sử dụng lao động. Việc tham gia của các đại diện này vào quá trình giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình lao động trong các cơ cấu khác nhau, trong đó có các cơ cấu thuộc lĩnh vực TPLĐ một mặt đảm bảo tính chất bình đẳng pháp lý, mặt khác làm tăng thêm vai trò tự quyết định của các chủ thể và hơn nữa làm tăng thêm chất lượng của các phán quyết, càng khẳng định tính khác biệt giữa TPLĐ với các hình thức tài phán khác. Thứ ba: Đối tượng mà TPLĐ chủ yếu giải quyết là những vấn đề đặc biệt trong đời sống xã hội.
Nó bao gồm các tranh chấp lao động, các cuộc đình công của người lao động và bế xưởng, một hành vi của chủ sử dụng lao động, như một số nước đang quy định và giải quyết hiện nay.