CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGÀNH KẾ TOÁN MỤC TIÊU Sau khi nghiên cứu xong chương này, người học sẽ: Hiểu các khái niệm cơ bản về kế toán Biết lịch sử hình thành và quá trình phát triển ngành kế toán trên thế giới và Việt Nam Khái quát được xu hướng phát triển ngành kế toán trong thế kỷ XXI Biết được tầm quan trọng và chức năng của kế toán trong nền kinh tế 1.1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN 1.1 Khái niệm kế toán Ở mỗi giai đoạn, nhận thức của con người về bản chất và nội dung của kế toán có sự thay đổi; thời kỳ kế toán còn phôi thai, người ta quan niệm kế toán là một đường lối tính toán và ghi chép các giao dịch liên quan đến tiền bạc của các nhân hay tổ chức để theo dõi từng diễn biến của các giao dịch thời ấy; thời kỳ kinh tế phát triển, kế toán được định nghĩa như một nghệ thuật ghi chép, phân tích và tổng kết những giao dịch thương mại để giúp các nhà quản lý nhận định được tình hình hoạt động của đơn vị từ đó có những quyết định đúng đắn. Tại Việt Nam, khái niệm kế toán thay đổi theo quá trình phát triển của nền kinh tế. Trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, kế toán chủ yếu cung cấp thông tin cho Nhà nước để kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch, thời gian này Điều lệ Tổ chức kế toán Nhà nước đưa ra khái niệm kế toán là: “Công việc ghi chép, tính toán bằng con số dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động, nhưng chủ yếu là dưới hình thức giá trị để phản ánh và kiểm tra tình hình vận động của các loại tài sản, quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh, tình hình sử dụng vốn của ngân sách nhà nước, cũng như của từng tổ chức, xí nghiệp”. Khi nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, mục tiêu của kế toán không chỉ cung cấp thông tin cho nhà nước, mà còn cung cấp thông tin Tài liệu tham khảo Nhập môn ngành kế toán | 7 cho các đối tượng khác nhau như ngân hàng, các nhà đầu tư tiềm năng, các nhà cung cấp, khách hàng, … nên khái niệm về kế toán đã thay đổi.
Theo Luật kế toán Việt Nam số 03/2003/QH11 ngày 17/06/2003: “Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động”. Khái niệm này mới chỉ đưa ra kế toán là cái gì nhưng chưa nói lên được kế toán dùng để làm gì? Liên đoàn quốc tế về kế toán trong những năm thập kỷ 70 của thế kỷ XX có khái niệm cơ bản về kế toán như sau: “Kế toán là nghệ thuật ghi chép, phân loại và tổng hợp theo một cách riêng bằng những khoản tiền, các giao dịch và các sự kiện mà chúng có ít nhất một tính chất tài chính và trình bày kết quả của nó”. Với khái niệm này, kế toán được nhấn mạnh là một môn nghệ thuật hơn là khoa học. Khi chúng ta nói đến tính khoa học là nói đến tính phổ biến, tính chân lý.
Tuy kế toán theo góc độ nào đó là khoa học, tức mang tính phổ biến, hay những nguyên tắc chung nhất mà những người làm kế toán phải tuân theo. Tuy vậy, ở đây người ta nhấn mạnh đến tính nghệ thuật của kế toán, tức dù là kế toán có tính khoa học nhưng nó phụ thuộc rất nhiều vào người thực hiện nó. Ví dụ như khi tính toán phân bổ chi phí sản xuất chung cho các sản phẩm, kế toán viên có thể lựa chọn nhiều phương pháp phân bổ khác nhau cho cùng một sự việc và với kết quả không giống nhau. Nhiều tài liệu quốc tế gần đây cho rằng nếu chúng ta nhấn mạnh vào tính nghệ thuật của kế toán sẽ làm gia tăng sự khác nhau giữa các giải pháp lựa chọn cho cùng một sự kiện, tình huống cần xử lý, như vậy sẽ làm giảm đi yêu cầu hay nguyên tắc khách quan của kế toán.
Hơn nữa ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của các chuẩn mực kế toán quốc tế và của các quốc gia, kế toán tài chính càng giảm đi tính nghệ thuật, tức quan điểm chủ quan của mỗi kế toán viên. Do vậy, trong các tài liệu xuất bản quốc tế gần đây các học giả không xem kế toán như là một nghệ thuật nữa. Trong các tài liệu kế toán xuất bản rộng rãi trên thế giới gần đây, kế toán có nhiều khái niệm khác nhau nhưng về cơ bản là giống nhau. Trong cuốn “Esentials of Accounting” của Giáo sư Robert Anthony Trường kinh doanh Hardvard đã đưa ra khái niệm ngắn gọn “Kế toán là ngôn ngữ của kinh doanh”.
Mục đích của mọi ngôn ngữ là cung cấp thông tin cho việc ra các quyết định. Trong cuốn “Introduction of Accounting” của Horngren, Sundem và Elliott xuất bản lần thứ 8 năm 2002 đã đưa ra khái niệm: “Kế toán là quá trình Tài liệu tham khảo Nhập môn ngành kế toán | 8 nhận diện, ghi chép, tổng hợp và báo cáo các thông tin kinh tế cho những người ra quyết định”. Theo Trần Xuân Nam (2014) Kế toán (Accounting) có thể được hiểu là một phương pháp ghi chép, phân loại, cộng dồn, tổng hợp các giao dịch của một tổ chức và trình bày các kết quả của nó cho những người cần sử dụng chúng trong việc ra quyết định kinh tế. Với khái niệm này, kế toán trước tiên là sự ghi chép các giao dịch (nghiệp vụ) vào các chứng từ kế toán.
Khi các giao dịch kinh tế phát sinh cần phải được ghi vào các chứng từ ban đầu, đó là các chứng từ gốc để ra lệnh cho việc thực hiện các giao dịch hay để chứng minh cho các giao dịch đã phát sinh và hoàn thành. Các chứng từ gốc được ghi nhận bởi chính những người thực hiện tại các bộ phận hoạt động của một tổ chức. Nhiệm vụ trước tiên của kế toán là làm sao thu thập đầy đủ các chứng từ gốc của một tổ chức hay doanh nghiệp. Các chứng từ sau đó phân loại và sắp xếp theo từng loại riêng biệt để tiện cho việc ghi chép và tổng hợp sau này.
Ví dụ như phân loại các Phiếu thu, Phiếu chi, Phiếu xuất kho (kiêm hóa đơn), Phiếu nhập kho. Việc phân loại ở đây còn có nghĩa là phân loại các chỉ tiêu kinh tế cần quản lý, ghi chép và báo cáo cho các đối tượng khác nhau. Mỗi loại đối tượng cần các thông tin kinh tế khách nhau cho việc ra quyết định của họ. Tuy nhiên, trong kế toán tài chính nhu cầu thông tin của các nhà đầu tư phải được đặt lên hàng đầu.
Việc phân loại các chỉ tiêu, tài khoản trong kế toán tài chính chủ yếu dựa trên yêu cầu của các nhà đầu tư. Để có được các thông tin có ý nghĩa cho quản lý cũng như đối với người sử dụng bên ngoài, kế toán phải phân loại các chỉ tiêu kinh tế cần quản lý, tiến hành đo lường và cộng dồn từng chỉ tiêu. Việc đo lường giá trị các tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí có rất nhiều tình huống phải áp dụng các nguyên tắc kế toán khác nhau (giá gốc hay giá thị trường?) để có thể thỏa mãn tối đa nhu cầu của các nhà đầu tư và những nhà quản trị của công ty. Bước tiếp theo, kế toán viên phải tổng hợp lại theo những cách riêng của kế toán và sau đó lập báo cáo tài chính hay các báo cáo quản trị có liên quan đến tài chính để truyền đạt các thông tin cần thiết cho những người cần đến nó cho việc ra quyết định kinh tế.
Các nhà đầu tư cần các thông tin tài chính về công ty để xem xét các quyết định liên quan đến Tài liệu tham khảo Nhập môn ngành kế toán | 9 việc đầu tư vào công ty (như có nên đầu tư hay không, đầu tư bao nhiêu, với giá như thế nào, …). Các nhà quản lý công ty dùng các thông tin kế toán để quản trị công ty tốt hơn, ví dụ như để biết được mặt hàng nào nên đẩy mạnh việc kinh doanh, mặt hàng nào nên hạn chế, từng khách hàng còn nợ công ty bao nhiêu hay công ty còn nợ các nhà cung cấp thế nào. Lưu ý rằng kế toán chỉ ghi chép, phân loại, tổng hợp, báo cáo các giao dịch và các sự kiện mà chúng có ít nhất một phần tính chất tài chính, nghĩa là nó có thể quy đổi ra tiền. Tất cả những gì không thể thay đổi, biểu diễn bằng tiền đều không phải là đối tượng của kế toán tài chính, ví dụ như các thống kê về đoàn, đảng trong một doanh nghiệp không phải là đối tượng của kế toán tài chính.2 Phân loại kế toán 1.1 Phân loại theo chức năng cung cấp thông tin Căn cứ vào chức năng cung cấp thông tin, người ta chia kế toán thành kế toán tài chính và kế toán quản trị: Kế toán tài chính: Kế toán tài chính là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính bằng báo cáo tài chính cho đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin của đơn vị kế toán, bao gồm cả bên trong và bên ngoài doanh nghiệp.
Báo cáo tài chính được lập trước tiên là nhằm cung cấp thông tin đến các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp, Thông thường, đây là những đối tượng ít có khả năng tiếp cận với thông tin kinh tế, tài chính của doanh nghiệp, họ cũng không thể kiểm soát được chất lượng thông tin mà họ được cung cấp. Chính vì vậy, để đảm bảo cho quyền lợi của nhà đầu tư, ngân hàng, các tổ chức tín dụng, đảm bảo sự ổn định và phát triển của nền kinh tế, kế toán tài chính được quy định phải tuân thủ chặt chẽ các chuẩn mực, chế độ kế toán. Kế toán quản trị: Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán. Báo cáo kế toán quản trị được lập nhằm cung cấp thông tin giúp các nhà quản trị trong quá trình điều hành, quản lý doanh nghiệp.