Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KINH TẾ HỌC QUỐC TẾ Về mặt lịch sử, việc nghiên cứu thương mại quốc tế và tài chính quốc tế được coi là khởi đầu của kinh tế học. Bài luận về “Cán cân thương mại” của nhà triết học Scotlen David Hume xuất bản năm 1758, lần đầu tiên đã giải thích cặn kẽ mô hình kinh tế. Gần 20 năm sau, Adam Smith xuất bản cuốn “Sự giàu có của các quốc gia”. Và kế đó là những cuộc tranh luận về chính sách thương mại của các nhà kinh tế học Anh đầu thế kỷ 19.
Những đóng góp đó đã giúp hình thành nên môn kinh tế học dựa trên mô hình như ngày nay. Ngày nay việc nghiên cứu kinh tế quốc tế ngày càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Từ đầu thế kỷ 21, các quốc gia ngày càng quan hệ chặt chẽ với nhau thông qua việc giao thương hàng hóa, dịch vụ, các luồng tiền, đầu tư giữa các nước. Nền kinh tế toàn cầu được tạo nên từ các mối liên kết này có đặc trưng quan trọng là luôn biến động, buộc các nhà hoạch định chính sách và các nhà lãnh dạo doanh nghiệp phải quan tâm chú ý đến những vận hội kinh tế thay đổi nhanh chóng trên khắp thế giới.
Cuốn sách này sẽ trình bày những khái niệm cơ bản và phương pháp của kinh tế học quốc tế và minh họa bằng các ứng dụng trong thực tế. Cuốn sách chủ yếu viết về những tư tưởng kinh tế tuy đã cũ nhưng vẫn còn giá trị đến ngày nay như các lý thuyết thương mại từ thế kỷ 19 của David Ricardo. Thêm nữa, cuốn tài liệu cũng đưa ra các phân tích cập nhật nhất. Trong thập kỷ vừa qua, nền kinh tế toàn cầu đã trải qua nhiều thách thức mới, từ việc phản đối toàn cầu hóa tới hàng loạt các cuộc khủng hoảng tài chính chưa từng thấy.
Cuốn sách cũng đưa ra những phương pháp tiếp cận mới đối với những vấn đề cũ, vừa truyền tải những tư tưởng mới, vừa nhấn mạnh tính hữu ích của các tư tưởng cũ. Các chủ đề nghiên cứu của Kinh tế học quốc tế Kinh tế học quốc tế nghiên cứu những chủ đề phát sinh từ những vấn đề riêng biệt của sự tương tác kinh tế giữa các quốc gia có chủ quyền. Có 7 chủ đề được nhắc lại nhiều lần trong suốt nghiên cứu kinh tế quốc tế: (1) lợi ích thu được từ thương mại, (2) mô thức thương mại, (3) chủ nghĩa bảo hộ, (4) cán cân thanh toán, (5) xác định tỷ giá hối đoái, (6) hợp tác chính sách quốc tế, (7) thị trường vốn quốc tế. (1) Lợi ích thương mại Mọi người đều biết rằng hầu hết các trao đổi quốc tế mang lại lợi ích cho các quốc gia, ví dụ như trong trường hợp một quốc gia không có khả năng sản xuất một hàng hóa nào đó, qua thương mại sẽ được đáp ứng những nhu cầu tiêu dùng hàng hóa khkoong phải sản xuất tại nước mình.
Tuy nhiên, nhiều người hoài nghi về lợi ích của việc trao đổi hàng hóa, một quốc gia vẫn có thể sản xuất đáp ứng nhu cầu của mình. Việc một quốc gia mua hàng hóa của mình sản xuất sẽ tạo việc làm cho chính nền kinh tế đó. Chẳng phải người Việt Nam nên tiêu dùng hàng hóa Việt Nam bất cứ khi nào có thể, để tạo thêm công ăn việc làm cho thị trường trong nước! Thế nhưng tất cả các quốc gia lại không thể sản xuất tất cả các hàng hóa trong khi nhu cầu tiêu dùng thì vô hạn. 9 Vấn đề quan trọng và cốt lõi nhất của kinh tế quốc tế chính là lợi ích thương mại - các quốc gia khi trao đổi có mang lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia không? Câu trả lời là: thương mại mang lại lợi ích nhiều hơn ta tưởng.
Tuy nhiên, nhiều người có những quan niệm sai lầm về thương mại như: nếu có sự chênh lệch lớn giữa các nước về năng suất lao động hay tiền công thì thương mại sẽ không có lợi; những nước có trình độ công nghệ thấp lo sợ hàng hóa của họ không có khả năng cạnh tranh và những nước có trình độ công nghệ cao và mức lương cao lo sợ mức sống của họ sẽ bị giảm khi tham gia vào thương mại hay hội nhập. Mô hình đầu tiên lý giải về nguyên nhân của thương mại đã chứng minh rằng hai quốc gia có thể trao đổi cùng có lợi ngay cả khi một quốc gia có hiệu quả hơn quốc gia kia trong việc sản xuất tất cả các hàng hóa, khi người sản xuất ở quốc gia kém hiệu quả hơn có thể cạnh tranh chỉ bằng cách trả lương thấp hơn (Chương 3). Chúng ta cũng thấy rằng các quốc gia được lợi khi xuất khẩu những hàng hóa tập trung nguồn lực mà nó dư thừa và nhập khẩu hàng hóa tập trung nguồn lực mà nó khan hiếm (Chương 5). Thương mại quốc tế cũng cho phép các quốc gia đi vào chuyên môn hóa sản xuất một số ít hàng hóa làm cho các quốc gia có hiệu quả cao hơn do lợi thế nhờ quy mô lớn.
Lợi ích thương mại không chỉ giới hạn trong việc trao đổi hàng hóa hữu hình mà còn ở các dạng trao đổi khác như: di cư quốc tế, vay và cho vay quốc tế, các tài sản rủi ro (cổ phiếu, trái phiếu). Những hình thức thương mại vô hình này cũng mang lại lợi ích thực sự như trao đổi hàng hóa hữu hình. Nhìn chung các quốc gia đều có lợi từ thương mại quốc tế, tuy nhiên thương mại quốc tế có thể làm tổn hại đến một số nhóm đặc biệt ở mỗi nước bởi thương mại quốc tế tác động mạnh đến phân phối thu nhập của các nhóm. Kinh tế học quốc tế từ lâu đã rất quan tâm đến vấn đề phân phối thu nhập trong các lý thuyết về thương mại.
Họ đã chỉ ra rằng: thương mại sẽ làm tổn hại cho người chủ sở hữu nguồn lực chuyên biệt trong hàng hóa cạnh tranh với hàng nhập khẩu. Thương mại quốc tế có thể làm thay đổi thu nhập của người lao động và chủ tư bản. Lợi ích thương mại không chỉ được quan tâm về mặt lý thuyết mà còn là vấn đề tranh cãi trong việc xây dựng các chính sách trong thực tế. Nhiều nhà bình luận cho rằng thương mại quốc tế, đặc biệt là do sự tăng nhanh của hàng xuất khẩu tại các nước có giá nhân công rẻ đã làm tiền lương thực tế của những lao động không có tay nghề ở các nước phát triển giảm.
Giải quyết vấn đề này là một nhiệm vụ quan trọng của các nhà kinh tế học quốc tế. (2) Mô thức thương mại Để có thể phân tích được những tác động của thương mại quốc tế và đưa ra những đề xuất thay đổi trong chính sách hướng vào thương mại của chính phủ, các nhà kinh tế học cần phải biết các lý thuyết của họ có giải thích được thực tế thương mại quốc tế hay không. Do đó việc tập trung vào giải thích mô thức thương mại (ai bán cái gì cho ai) là mối quan tâm chính của kinh tế học quốc tế. Một số mô thức thương mại có thể dễ hiểu như mô thức dựa vào khí hậu, nguồn lực.
Ví dụ Brazin xuất khẩu cà phê, các nước Trung Đông xuất khẩu dầu mỏ. Tuy nhiêu, trong thực tế nhiều mô thức thương mại khó nhận biết hơn. 10 Đầu thế kỷ 19, Ricardo đưa ra lời giải thích về thương mại dưới dạng khác biệt về năng suất lao động quốc tế (được nghiên cứu trong Chương 3). Trong thế kỷ 20, một trong những lý thuyết có ảnh hưởng nhất và đồng thời gây tranh cãi nhất là lý thuyết thương mại Heckcher - Ohline, giải thích mô thức thương mại dựa trên sư tương tác giữa một mặt là cung tương đối về nguồn lực quốc gia (như vốn, lao động và đất) và mặt khác là việc sử dụng tương đối các yếu tố đó trong sản xuất các hàng hóa khác nhau (được nghiên cứu trong Chương 5).
Gần đây một số nhà kinh tế học quốc tế đưa ra các lý thuyết, trong đó đưa ra giả thuyết một sự kết hợp ngẫu nhiên có thực trong mô thức thương mại quốc tế (được nghiên cứu trong Chương 7 và 8). (3) Trao đổi bao nhiêu là đủ Lợi ích thương mại là khái niệm quan trọng nhất trong các lý thuyết thương mại, tuy nhiên vấn đề trao đổi bao nhiêu là đủ lại là chủ đề quan trọng của chính sách được bàn luận nhiều trong kinh tế quốc tế. Trong thực tế từ thế kỷ 16, chính phủ các nước đã bắt đầu lo ngại về cạnh tranh quốc tế đối với sự phát triển của các ngành công nghiệp trong nước. Để có thể cạnh tranh trên thị trường quốc tế, chính phủ đã cố gắng bảo vệ các ngành công nghiệp của nước mình bằng cách hạn chế nhập khẩu và trợ cấp xuất khẩu.
Một sứ mệnh quan trọng nhất của kinh tế học quốc tế là phải phân tích các chính sách bảo hộ này và thường là để phê phán chủ nghĩa bảo hộ và chứng minh lợi thế của thương mại tự do. Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, với quan điểm thương mại không chỉ mang lại sự thịnh vượng mà còn là hòa bình, các nước phát triển, đặc biệt là Mỹ, đã dỡ bỏ các hàng rào hạn chế thương mại quốc tế. Cuộc tranh luận về trao đổi bao nhiêu là đủ đã có những thay đổi lớn trong những năm 1990 khi một số hiệp định tự do lớn được ký kết như NAFTA (1993), ASEAN (1996)… rồi sự ra đời của WTO (1994). Tuy nhiên, cũng từ đó phong trào chính trị chống toàn cầu hóa phát triển mạnh, đỉnh cao là năm 1999, khi người biểu tình phá vỡ một cuộc hội nghị thượng đỉnh về thương mại ở Seatle.
Phong trào chống toàn cầu hóa đã buộc những người ủng hộ tự do thương mại tìm cách giải thích mới cho các quan điểm của họ. Do tầm quan trọng thực tế của vấn đề bảo hộ thương mại, các nhà kinh tế đã xây dựng một khung lý thuyết để phân tích tác động của các chính sách của chính phủ mà có ảnh hưởng đến thương mại quốc tế. Khung phân tích này cho phép dự đoán được tác động của các chính sách thương mại, đồng thời phân tích được chi phí và lợi ích và xác định được các tiêu chí cho việc xác định khi nào sự can thiệp của chính phủ là tốt cho nền kinh tế (nghiên cứu trong Chương 9, 10 và sử dụng để tranh luận một số vấn đề chính sách trong hai chương tiếp theo). Các phân tích kinh tế này chỉ ra ai được lợi và ai bị thiệt từ các chính sách của chính phủ như thuế quan và trợ cấp xuất khẩu.