MỞ ĐẦU Bắc Ninh – Kinh Bắc là đất phát tích nhà Lý – triều đại khai mở nền văn minh Đại Việt, nơi đây từng hình thành và lan toả nhiều giá trị truyền thống, góp phần quan trọng làm rạng rỡ lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Hiện nay, Văn Miếu Bắc Ninh còn 12 tấm bia đá lưu danh đầy đủ họ tên, quê quán, chức vị của 677 vị đại khoa. Trong số 46 vị Trạng nguyên của Việt Nam, Bắc Ninh có tới 12 vị. Thông tin trên giúp em hiểu gì về con người và vùng đất Bắc Ninh – Kinh Bắc? Kiến thức Mới 1.
Tìm hiểu chung về truyền thống hiếu học và khoa bảng Cùng với chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân văn, từ ngàn đời nay, hiếu học đã trở thành một truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Theo Từ điển tiếng Việt1: “Truyền thống hiếu học là thói quen ham thích, coi trọng việc học hành được hình 1 Từ điển tiếng Việt, Trung tâm Từ điển học, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1994. 17 thành lâu đời, được truyền từ đời này sang đời khác,…”. Khoa nghĩa là khoa thi; bảng là bảng đề tên người thi đỗ.
Khoa bảng là người đỗ đạt trong các khoa thi thời xưa. Trong thời kì phong kiến độc lập, EM CÓ BIẾT? nhất là dưới thời Lê sơ, các triều đại phong kiến đều nhận thức sâu sắc Sĩ Nhiếp người nước Lỗ (Trung Quốc), được vai trò của “hiền tài” nên đã quan là vị chân Nho, làm Thứ sử Giao Châu, tâm chăm lo phát triển giáo dục. Điều hành đức giữ gìn Phật tượng ở ấp Lũng này thúc đẩy truyền thống hiếu học Chiền, Siêu Loại, Luy Lâu Thành. Lấy phát triển mạnh mẽ, từ đó nền khoa Luy Lâu Thành làm nơi ở, phụng sự đền bảng của dân tộc ta có nhiều thành thờ và bốn bên Thành Luy Lâu, đó chính tựu rực rỡ.
là nơi trị sở… Bắc Ninh là nơi khởi phát của nền Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: "Nước ta giáo dục Nho học từ thời Thái thú Sĩ thông thi thư, hiểu lễ nhạc, làm một Nhiếp (thế kỉ II sau Công nguyên). nước văn hiến, là bắt đầu từ Sĩ Vương, Trong thời kì phong kiến độc lập (từ công đức ấy không những chỉ ở đương thế kỉ X), nhờ những điều kiện thuận thời mà còn truyền mãi đời sau, há lợi cùng ý chí của người dân nơi đây chẳng lớn sao?" đã giúp mảnh đất này trở thành cái nôi Theo Ngô Sĩ Liên, đào tạo nhân tài cho đất nước. Đại Việt sử kí toàn thư 2. Điều kiện cơ bản hình thành truyền thống hiếu học và khoa bảng của tỉnh Bắc Ninh a) Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội Hình 2.
Khu vực Thành nội Luy Lâu, huyện Thuận Thành Thời Bắc thuộc, Thái thú Sĩ Nhiếp – một quan chức người Hán, mở trường dạy học tại trung tâm Luy Lâu, nên Bắc Ninh cũng là nơi sớm nhất trong cả nước tiếp nhận chữ Hán và tư tưởng Nho giáo. 18 Việc truyền bá chữ Hán và tư tưởng Nho học bắt đầu từ vùng đất Bắc Ninh có tác dụng gì? Do điều kiện tự nhiên thuận lợi, đất đai màu mỡ nên từ xa xưa, cư dân Bắc Ninh đã có một nền nông nghiệp trồng lúa rất phát triển. Nền kinh tế nông nghiệp ổn định đã tạo điều kiện cho thủ công nghiệp và thương nghiệp phát triển, nhiều làng xã trong tỉnh không còn mang tính thuần nông. Do vậy, làng quê Bắc Ninh thời phong kiến luôn nhộn nhịp, sầm uất, sôi động, tạo môi trường phát huy cá tính và phẩm chất người dân xứ Kinh Bắc.
Thời phong kiến, Bắc Ninh không chỉ là đất phát tích ra nhà Lý mà còn là vùng đất của Phật giáo, Nho giáo, của chùa tháp, lễ hội. Bắc Ninh còn là nơi hình thành nhiều làng nghệ thuật. Đền Đô – nơi thờ các vị vua triều Lý (phường Đình Bảng, thành phố Từ Sơn) Triều Lý cho dựng đền Đô thể hiện điều gì? b) Yếu tố dòng họ và truyền thống Trong các yếu tố khiến cho Bắc Ninh – Kinh Bắc là nơi có truyền thống hiếu học, khoa bảng vẻ vang, yếu tố di truyền (dòng họ) có vai trò quan trọng. Thực tế cho thấy, những người sinh ra trong gia đình, gia tộc có bố mẹ, ông bà,… vốn thông mẫn thì bao giờ họ cũng học hành giỏi giang, thi cử đỗ đạt cao.
Đó là những “con nhà nòi” theo cách nói dân gian. Truyền thống hiếu học, khoa bảng mang tính gia đình, dòng họ là một đặc điểm nổi bật ở tỉnh Bắc Ninh. Vì sao yếu tố dòng họ, gia đình có ảnh hưởng quyết định tới truyền thống hiếu học, khoa bảng ở tỉnh Bắc Ninh? 19 EM CÓ BIẾT? Tất cả những yếu tố trên đã tạo nên Bắc Ninh với bề dày lịch sử nghìn năm Theo gia phả dòng họ Nguyễn Đăng, và một bản sắc văn hoá độc đáo, hình từ năm 1443–1918, dòng họ có 91 người thành nên tính cách và phẩm chất của đỗ đạt, trong đó có 1 trạng nguyên, 1 con người xứ Kinh Bắc: cần cù, năng thám hoa, 6 tiến sĩ, 7 giám sinh, 25 hiệu động, tháo vát trong lao động; anh hùng, sinh, 2 tú tài, 5 thiếu khanh, tổng giáo và quả cảm trong đấu tranh chống ngoại huyện thừa. xâm; say mê, tài hoa trong hoạt động Theo Cổng thông tin điện tử sáng tạo nghệ thuật, góp phần làm rạng tỉnh Bắc Ninh, Dòng họ Nguyễn Đăng rỡ truyền thống của con người Bắc Ninh vùng Kinh Bắc xưa là hiếu học và khoa bảng.
Đặc điểm riêng về truyền thống hiếu học và khoa bảng của tỉnh Bắc Ninh a) Truyền thống hiếu học và khoa bảng hình thành sớm, phát triển rực rỡ Từ thời kì Bắc thuộc, Thái thú Sĩ Nhiếp đã cho mở trường học ngay tại thủ phủ Luy Lâu. Như vậy, ngay từ đầu Công nguyên, cư dân Bắc Ninh đã ở trong trung tâm của nền giáo dục Nho học. Do đó, có nhiều thuận lợi cho khoa cử Nho giáo phát triển ở các thế kỉ sau. Bước vào thời kì phong kiến độc lập, từ thời Lý – Trần về sau, nhà nước phong kiến ngày càng quan tâm đến giáo dục.
Khoa cử Nho học đã tạo điều kiện thuận lợi cho nền giáo dục của tỉnh Bắc Ninh phát triển. Trong lịch sử khoa cử Việt Nam thời phong kiến (1075–1919), Kinh Bắc có 677 vị đỗ đại khoa, chiếm 2/3 cả nước, trong đó có 43 vị đỗ Tam khôi. Truyền thống khoa bảng của Kinh Bắc phát triển rực rỡ với nhiều tên tuổi, tiêu biểu như: Lê Văn Thịnh là người đứng đầu trong kì thi đầu tiên của nước ta; Nguyễn Quan Quang là vị Trạng nguyên đầu tiên của nền khoa cử Việt Nam; khoa thi năm 1508 người Bắc Ninh đoạt danh hiệu Tam khôi gồm: Trạng nguyên Nguyễn Giản Thanh, Bảng nhãn Hứa Tam Tỉnh, Thám hoa Nguyễn Hữu Nghiêm. Bắc Ninh có nhà khoa bảng đậu “Tứ nguyên” – danh hiệu độc đáo nhất trong lịch sử khoa cử Việt Nam, là Nguyễn Đăng, thi 3 kì (Hương, Hội, Đình) đều đỗ đầu.
Sau đó, triều đình lại tổ chức 1 kỳ thi “ứng chế” (thi đối đáp), ông lại đỗ đầu, nên được vua tặng danh hiệu “Tứ nguyên” độc nhất trong nước. Bắc Ninh có danh nhân khoa bảng “Lưỡng quốc Trạng nguyên” là Nguyễn Đăng Đạo, đỗ Trạng nguyên năm 1683 và khi đi sứ Trung Quốc năm 1697, ông tiếp tục được vua nước này phong Trạng nguyên. 20 Bắc Ninh có nhiều nhà khoa bảng trẻ EM CÓ BIẾT? tuổi như Nguyễn Nhân Thiếp đỗ Tiến sĩ năm 1466 (năm 15 tuổi), Vũ Kiệt đỗ Họ Nguyễn ở Kim Đôi cũng là dòng họ Trạng nguyên năm 1472 (năm 20 tuổi) duy nhất ở nước ta có tới 13 đời liên tiếp đỗ đại khoa, trong đó có 9 anh em, chú và Nguyễn Quang Bật đỗ Trạng nguyên cháu cùng làm quan đại thần một triều; năm 1484 (năm 20 tuổi). có gia đình có tới 5 anh em ruột đều đỗ Bắc Ninh có 8 cặp anh em ruột cùng tiến sĩ trong thời gian từ năm 1466 đến thi đậu đại khoa trong cùng một khoa năm 1475, ở độ tuổi từ 15 đến 19, đặc biệt thi.
Họ Nguyễn làng Kim Đôi có 18 vị có hai anh em cùng đỗ một khoa. Ngợi tiến sĩ, trong đó có gia đình 5 anh em ca tài năng của con cháu họ Nguyễn làng ruột đều đỗ đại khoa, có 4 anh em họ Kim Đôi, Vua Lê Thánh Tông đã ban cho cùng đậu tiến sĩ một khoa, 13 đời liên 8 chữ vàng: tiếp có người đỗ đại khoa. “Kim Đôi gia thế chu tử mãn triều.” Ngạn ngữ dân gian có câu ca ngợi (Tạm dịch: Dòng họ Kim Đôi áo đỏ áo truyền thống khoa bảng của Bắc Ninh: tía đầy triều) “Một giỏ sinh đồ, một bồ ông Cống, một Theo Cổng thông tin điện tử thành phố đống ông nghè, một bè Tiến sĩ, một bị Bắc Ninh, Vùng đất văn hiến Trạng nguyên, một thuyền Bảng nhãn”. Văn Miếu Bắc Ninh Hãy kể tên một số danh nhân khoa bảng nơi em ở.
b) Nhiều nhà khoa bảng có đóng góp lớn trong tiến trình lịch sử dân tộc Bắc Ninh – Kinh Bắc, vùng đất địa linh sinh nhân kiệt. Trong suốt chiều dài lịch sử phong kiến, các nhà khoa bảng đã có những đóng góp vô cùng to lớn trong công cuộc dựng nước và giữ nước. 21 Lĩnh vực chính trị – quân sự: Có nhiều bậc khoa bảng Bắc Ninh giữ chức vụ cao và đóng góp to lớn với lịch sử dân tộc, tiêu biểu như Lê Văn Thịnh, Vũ Kiệt,… Ngoài ra, còn nhiều nhà khoa bảng là những nhà chính trị – quân sự lỗi lạc như Nguyễn Thiên Tích, Đàm Thận Huy, Nguyễn Danh Lâm,… Lĩnh vực văn hoá – giáo dục: Các nhà khoa bảng Bắc Ninh không chỉ xuất sắc trong lĩnh vực quản lí đất nước mà còn là những nhà văn hoá, nhà giáo, nhà sư đầy tài năng, tiêu biểu như: Nguyễn Thuyên (Hàn Thuyên), Lý Đạo Tái, Nguyễn Nhân Thiếp,… Ngoài ra, mảnh đất Bắc Ninh còn nhiều nhà khoa bảng có đóng góp to lớn đối với nền văn hoá – giáo dục đất nước. Lĩnh vực ngoại giao: Trong việc đi sứ, nhiều nhà khoa bảng Bắc Ninh đã thể hiện tài năng lỗi lạc, tinh thần dũng cảm vượt qua những thử thách để hoàn thành nhiệm vụ.