chương 1. Sau đó đưa ra những giái pháp và khuyến nghị đế cái thiện tỉnh trạng Suy thoái môi trường cũng như hướng đên Tài chinh xanh và phát tricn ben vừng trong tương lai. CO SỞ LÝ THUYẾT & NGHIÊN cứu THỤC NGHIỆM 2.1 Co sở lý thuyết 2./ Lý thuyết Phát triển bền vững Theo báo cáo "Tương lai chung cùa chủng ta" cùa Brundtland, phát triên bền vững được định nghĩa là việc phát triên nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không cần phải tiêu thụ tài nguyên và khá năng của thế hệ tương lai đẻ đáp ứng nhu cầu cùa họ (Connelly & Smith, 1999). Theo cách này, phát tricn bền vững là quá trinh mà người dân trong một quốc gia có thê đáp ứng nhu cầu cùa họ và nâng cao chất lượng cuộc sổng của họ mà không gây tác động tiêu cực đến lài nguyên thuộc về thế hệ tương lai và không làm húy hoại cơ sờ của cuộc sổng tương lai.
Bên cạnh đó, chấp nhận quan điểm rằng “phát triển bền vững’' có nghía là phúc lợi xà hội được bền vừng, và phúc lợi đó không chi có nghĩa là phúc lợi hiện tại mà còn là phúc lợi xuyên suốt, các thê hệ. Chi số phúc lợi xà hội mà tôi sẽ nghiên cứu là giá trị hiện tại cua dòng phúc lợi của mồi thế hệ. Tất nhiên đây là một khái niệm quen thuộc trong kinh tể phát triển. Nỏ đà được áp dụng từ lâu trong lỷ thuyết và thực nghiệm về tỷ lệ tiết kiệm quổc gia và là nền tàng của lý thuyết và thực nghiệm về phân tích lợi ích chi phí xâ hội.
Do đó, “phát triển bền vừng” là một chương trinh kinh tể trong đó phúc lợi trung bình của các thê hệ hiện tại và tương lai không suy giảm theo thời gian. Phát triên ben vững dựa trân triêt lỷ của tính bên vững, nơi mà khả năng của hệ thống duy trì hoạt động trong tương lai không bị hạn chế. Điều này đòi hói rằng mong muốn của con người không giâm đi theo thời gian, và các nguồn lài nguyên mà hệ thống con người, các loài khác và hệ sinh thái cần đê duy trì hoạt động tốt không bị suy yếu. Phát triên ben vững cũng là việc thực hiện các hành động dựa trên triết lý bền vừng.
Trong mô hỉnh phát triên này, chiên lược, chính sách, chương trình và hoạt động được xem xét thường xuyên, được theo dõi và điều chỉnh dựa trôn các nguyên tắc bồn vững. Các biện pháp này được thực hiện một cách khôn ngoan và có ý thức, vỉ lợi ích của cộng đồng và vi mục tiêu bào vệ tài nguyên thiên nhiên. Hơn nữa, quyết định dựa trên các phát hiện có thể có tác động tích cực lớn hơn so với tác động tiêu cực của chúng. 15 Trong phát tricn bền vừng, các hẹ thống báo vệ sự sống của con người cũng như các sinh vật và hệ sinh thái khác được bảo vệ và hồ trợ.
Điều này đồng thời duy trì sự cân bằng giừa các yêu cầu cùa phát triỗn và tiêu chuân báo vệ môi trưÒTig. Lý thuyết Kình te môi trường Lý thuyết kinh tế môi trường phát triển từ viộc phân tích sự thất bại của thị trường tư nhân trong việc cung cấp lượng hàng hóa môi trường một cách hiệu quả. Do đó, nỏ chú ý nhiều đến nhùng cách mà chính phù có thể cái thiện phúc lợi bằng cách can thiệp vào thị trường. Nhiều phương pháp điều tiết được đề xuất trong tài liệu kinh tế môi trường tỉm cách sửa chừa những thất bại của thị trường bằng cách tạo ra nhừng thị trường mà trước đây chúng chưa tồn tại (ví dụ, bằng cách sứ dụng thuế đố thay thế cho những mức giá bị thiếu), từ đó mô phỏng tác động của thị trường.
Nhừng cách tiêp cận dựa trên thị trường này thường được tháo luận mà không phân biệt rõ ràng là vượt trội so với các tiêu chuẩn. Ưu diêm của họ được nhiều người biết đến và ủng hộ mạnh mẽ. Tất cả đều tạo động cơ khuyến khích các doanh nghiệp giảm thài mà không yêu cầu một phương pháp giám thái cụ thế hoặc phân bô số lượng giảm thái cụ thể cho doanh nghiệp. Băng cách đê lại sự linh hoạt này, tât cả chúng đều cho phép đạt được mục tiêu ô nhiễm tống hợp với chi phí tống họp thấp hơn so với tiêu chuẩn thống nhất (nghĩa là chúng hiệu quã hơn về mặt chi phí).
Tuy nhiên, các công cụ dựa trên thị trường khác nhau có sự khác nhau về cách ảnh hường đến cả kết quả cân bằng một phần và cân bằng chung. Hơn nữa, các tiêu chuấn thường không được thiết kế kém như các tài liệu kinh tế gợi ý. Kinh tế môi trường thường ủng hộ việc sừ dụng thuế ô nhiễm (còn được gọi là thuế Pigouvian) hoặc các công cụ dựa trôn thị trường như hộ thống mua bán phát thãi. Thuế ỏ nhiễm đánh vào người gây ô nhiềm, tạo ra động lực kinh tể đê giảm lượng khí thái.
Hệ thống mua bán phát thãi đặt ra giới hạn (giới hạn) về lượng khí thái và cho phép các công ty mua và bán giấy phép trong giới hạn đó. Một trong nhừng điều kiện lien quyết đê thị trường hoạt động lốt là việc lạo ra và phân bô quyền sờ hữu một cách rò ràng. Thị trường đà thất bại đối với hàng hỏa môi trường vì trong hầu hết các trường họp, không có khá năng xác định quyền do tính chât không cạnh tranh hoặc không độc quyên của hàng hóa. Các quy định vê ô nhiêm, dù dựa trên thị trường hay mệnh lệnh và kiêm soát, đều ngầm xác định các quyền và do đó có những hậu quà phân phối đáng kế.
Chúng ánh hường đến lợi nhuận cúa người gây ô nhiễm và do đỏ ảnh hưởng đến việc gia nhập/ra khỏi ngành được quản lý. Do 16 đỏ, việc phân phổi có thể ánh hường đến tính hiệu quá những lác động chính trị của nó có lẽ còn quan trọng hơn do ảnh hưởng đen khả năng chấp nhận và tính khá thi cùa các chương trình quán lỷ. Việc phân phổi ánh hướng đen chính sách lựa chọn công cụ và thậm chí có thế ánh hưởng đến mức độ ô nhiễm mục tiêu. Các mô hình chi tập trung vào tác động phân bô ngắn hạn cua các công cụ điều tiết có thê không giài thích được lác động hiệu quà trong dài hạn hoặc quy trinh chinh trị.
Dựa vào các công ty đế giảm ô nhiễm một cách tự nguyện hoặc, theo Định lý Coase, thông qua đàm phán đẻ phân bô quyên ô nhiềm là hai cách tiếp cận không yêu cầu các chương trinh quán lý rõ ràng của chính phủ. Cái trước đòi hỏi phái có các cách thức đê doanh nghiệp cái thiện cá hiệu quá hoạt động môi trường và lợi nhuận, trong khi cái sau yôu cầu các định nghĩa rõ ràng về quyền và hẹ thống pháp lý đe thực thi các quyền đó. Mặc dù cá hai đều cỏ thê áp dụng được trong một sổ trường hợp, nhưng cá hai đều không thê đỏng vai trò thay thế thích hợp cho các chương trình của chính phú, bời vì các già định can thiết đế khiến chúng hoạt động không được áp dụng rộng rãi.3 Lý thuyết Đường cong /nói trường Kuznets Triêt lý cơ bàn của lý thuyêt EKC được phản ánh trong quan diêm cùa Beckerman về tác động của tăng trướng kinh tế đến suy thoái môi trường: có “bằng chứng rõ ràng rằng, mặc dù Tăng trường kinh tế thường dần đến suy thoái môi trường ờ giai đoạn đầu của quá trình, cuối cùng là giai đoạn tốt nhất và cỏ lẽ là Cách duy nhất để đạt được một môi trường tổt ớ hầu hết các nước là trờ nên giàu có” (Beckerman, 1992). Theo giá thuyêt EKC, khi nên kinh tê đạt đên một mức đủ phát triẽn, tăng trướng kinh tế tiếp theo có thô có lợi cho tinh hình môi trường.
Trong giai đoạn ban đầu cúa sự phát triển kinh tế, khi sán xuất chủ yểu dựa vào nguyên liệu sơ cấp và tài nguyên thiên nhiên còn dôi dào, và việc sàn xuất ít tạo ra chất thài do hạn chế về hoạt động kinh tế. Khi quá trinh phát triên và công nghiệp hóa diễn ra, sự cạn kiệt đáng kể vê tài nguyên thiên nhiên và tích tụ chất thải trờ nên rò rệt. Trong giai đoạn này, cỏ một mối quan hộ lích cực giữa thu nhập hoặc tăng trướng kinh tế (trên mồi người) và sự suy thoái môi trường (trên mồi người). Với sự tăng trường kinh tế tiếp theo, sự phát 17 triên của các dịch vụ, tiến bộ công nghệ và sự lan truyền thông tin giới hạn cơ sớ vật chất cua nên kinh tế và dần đến giám thiêu suy thoái môi trường (Panayotou, 2003).
Đường cong Kuznets ban đâu đề cập đến các vấn đề liên quan đến tác động của tăng trương kinh tế đến phân phổi thu nhập (Kuzncts, 1955). Đường cong này được VC dưới dạng chừ u ngược theo như bán gốc đường cong do Simon Kuznets (Kuznets, 1955) đề xuất liên quan đến mối quan hệ giừa bất bình đăng thu nhập và tăng trưởng kinh tể. Những nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên về mối quan hệ EKC xuất hiện độc lập vào đầu những năm 1990 (Shafic và Bandyopadhyay, 1992; Grossman và Krueger, 1995; Selden và Song, 1994). Những cái này nghiên cứu thực nghiệm sử dụng dữ liệu vê các chât gây ô nhiêm khác nhau trở nên cỏ săn do Giám sát mỏi trường toàn câu Hộ thống (GEMS), bán tóm tắt dừ liộu môi trường cùa OECD và ước tính lượng khí thải CO2 từ Oak Ridge National Phòng thí nghiệm (ORNL) (Dinda, 2004).
Điều quan trọng cần lưu ý là Đường cong Kuznets Môi trường là một mô hình đơn gián hóa và không thê áp dụng phô biến. Hình dạng và sự tồn tại của EKC có thê khác nhau tùy thuộc vào chỉ báo môi trường cụ thế hoặc chất gây ô nhiễm đang được kiêm tra. Một sô chât gây ô nhiêm cỏ thê tiẻp tục tăng theo thu nhập do mức tiôu thụ tăng, trong khi những chất gây ô nhiễm khác có thể giảm khi công nghệ và quy định được cái thiện. Hơn nừa, EKC không giái quyết các vấn đề về bất bình đắng thu nhập.
Mặc dù nó gợi ý sự cài thiện tông thê vê chất lượng môi trường ờ mức thu nhập cao, nhưng nó không đảm báo rang sự cái thiện này mang lại lợi ích như nhau cho tất cà các thành phần trong xà hội. Trên thực tế, các chính sách và quy định về môi trường rất quan trọng đê đàm báo quá trinh chuyên đôi sang nền kinh tế sạch hơn và bền vừng hơn dien ra.