CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan nghiên cứu ở các nước trên thế giới và ở Việt Nam 1.1 Tổng quan các nghiên cứu về tài chính xanh Xu hướng phát triển tài chính xanh là một xu hướng khá mới mẻ trong phát triển kinh tế của toàn thế giới, trong đó phát triển kinh tế phải đảm bảo được những mục tiêu về phát triển bền vững. Hiện nay, các nền kinh tế ngày càng chú trọng đến vấn đề phát triển bền vững, phát triển tài chính xanh là một điều kiện cần thiết để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững đó. Nhận thấy tầm quan trọng của việc phát triển tài chính xanh trong thời đại mới, đã có không ít những bài viết và những bài báo, luận án, công trình nghiên cứu về vấn đề này. Nổi bật tiêu biểu có một số công trình bài viết, bài báo liên quan đến phát triển tài chính xanh.
a) Tại các nước trên thế giới Thời gian gần đây có nhiều nghiên cứu do một số tổ chức, học giả quốc tế thực hiện đề cập tới những vấn đề về lý luận và thực tiễn để xây dựng một nền kinh tế xanh nói chung và xây dựng hệ thống tài chính nói riêng. Các kết quả khảo sát do Hiệp hội Kế toán Công chứng Anh (ACCA) và Viện Kế toán Quản trị (IMA) (2013) thực hiện cho thấy sự lên giá nhiên liệu và năng lượng cũng như sự phổ cập của mạng Internet được coi là những vấn đề có ảnh hưởng tới sự phát triển của nền kinh tế trong tương lai. Điều này cho thấy vấn đề cấp bách hiện nay là phải xây dựng một nền kinh tế xanh tiết kiệm nguyên liệu và sử dụng các công nghệ hiện đại. Mô hình kinh tế được Chương trình môi trường Liên hiệp quốc - UNEP (2011) đưa ra khi khảo sát việc sử dụng nguồn tài nguyên, nguyên liệu, nhiên liệu thiên nhiên trên thế giới.
Báo cáo nghiên cứu của nhóm Climate Policy Initiative (2014) đã tập hợp số liệu về tài chính khí hậu từ nhiều nguồn khác nhau để cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách thông tin tổng hợp toàn diện về quy mô nguồn vốn tài trợ, công cụ Tieu luan 6 tài chính được sử dụng để huy động vốn, đối tượng và hình thức sử dụng nguồn tài trợ để thực hiện dự án giảm bớt và thích ứng với biến đổi khí hậu trên toàn cầu, hỗ trợ chuyển đổi từ mô hình kinh tế nâu truyền thống sang nền kinh tế xanh. Để huy động cũng như sử dụng nguồn vốn tài trợ cho các hoạt động trong nền kinh tế xanh, nhiều quốc gia đã triển khai hệ thống tài chính xanh. Báo cáo về tài chính xanh của Ủy ban kiểm tra môi trường thuộc Quốc hội Anh (2014) đã đánh giá tiến trình thực hiện chuyển đổi sang mô hình kinh tế xanh của Anh để rút ra những điều chỉnh cần thiết. Báo cáo trình bày cơ chế tài trợ trực tiếp của chính phủ cho các dự án đầu xanh thông qua ngân hàng đầu tư xanh, các hoạt động bảo lãnh của Chính phủ cho các dự án cơ sở hạ tầng anh cũng như các quỹ bảo vệ môi trường.
Cùng với việc tài trợ xanh, Chính phủ Anh cũng hướng tới việc tháo gỡ những rào cản đối với đầu tư xanh thông qua việc đơn giản hóa thủ tục, hỗ trợ quản trị rủi ro, phát triển kỹ năng và kinh nghiệm trong dự án xanh. Trong phần khuyến nghị, báo cáo nhấn mạnh vai trò của Chính phủ trong xây dựng một chiến lược tổng thể hỗ trợ quá trình chuyển đổi nhanh và hiệu quả hơn. Nghiên cứu của PWC (2013) phân tích sự khác biệt trong hoạt động của hệ thống ngân hàng Trung Quốc so với quốc gia khác để tìm ra nguyên nhân cản trở khi áp dụng mô hình tài chính xanh tại Trung Quốc. Để thực hiện mục tiêu PWC đã nêu lên những thông lệ quốc tế phù hợp nhất đối với Trung Quốc trên cơ sở nghiên cứu những chính sách và kinh nghiệm nhiều quốc gia khi áp dụng mô hình tài chính xanh.
Nghiên cứu cũng thiết kế một loạt các công cụ và hướng dẫn mà các ngân hàng Trung Quốc có thể vận dụng, cũng như đề xuất một số hàm ý chính sách khơi thông dòng vốn đầu tư xanh vào các lĩnh việc như tiết kiệm năng lượng, carbon thấp. Theo phân tích của Green Finance Task Force (2015), hệ thống tài chính xanh của Trung Quốc cần phải hình thành những cơ chế tài chính khuyến khích đầu tư xanh; xây dựng định chế chuyên thực hiện các hoạt động đầu tư và cho vay xanh; cung cấp nhiều loại sản phẩm và kênh tài trợ xanh; đảm bảo sử dụng tài chính công một cách hiệu quả để khuyến khích dòng tài chính tư nhân; hình thành cơ sở hạ tầng thông tin, Tieu luan 7 hỗ trợ nhà đầu tư đánh giá tác động môi trường ví dụ như chỉ số tín dụng xanh,. Choi Yeon Ok (2012), trong tác phẩm “ Korea’s Green Growth based on OECD Green Growth Indicators” [46] đã đưa ra khái niệm về tăng trưởng xanh, các chỉ số tăng trưởng xanh của OECD, và tổng quan về tăng trưởng xanh Hàn Quốc. Nghiên cứu đã phân tích các chỉ số liên quan đến tăng trưởng xanh Hàn Quốc như các chỉ số hiệu suất môi trường và tài nguyên, các chỉ số về các chính sách kinh tế như là chi tiêu chính phủ cho hoạt động R&D, ODA cho tăng trưởng xanh và đề tài cũng đề cập đến việc đánh thuế môi trường trong tổng thu nhập,… Tuy nhiên đề tài vẫn tồn tại một số hạn chế như mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra các con số thống kê đối với từng chỉ số liên quan đến tăng trưởng xanh mà chưa đưa ra những phân tích chuyên sâu về quá trình thực hiện tăng trưởng xanh ở Hàn Quốc.
Kennet, Miriam (2007) trong “Green Economics: An Introduction to Progressive Economics” [64], đăng trên Harvard College Economics Review, Volume II, Issue 1. December, đã giới thiệu một cách tổng quan về phát triển kinh tế xanh – một xu thế tất yếu của nền kinh tế thế giới. Bên cạnh đó, tác phẩm này đã giúp cho người đọc có một nhận định tổng quan về phát triển kinh tế xanh trên thế giới bằng cách đưa ra các mô hình phát triển kinh tế xanh đã và đang được áp dụng ở một số nước. Năm 2008, Chương trình môi trường của Liên hợp quốc (UNEP) xuất bản cuốn sách “Hướng đến nền kinh tế xanh: Con đường phát triển bền vững và xóa đói giảm nghèo” (Bản dịch của Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và Môi trường).
Cuốn sách đã đề cập khái niệm, sự cần thiết và gợi mở chính sách phát triển kinh tế xanh cho các quốc gia trên thế giới; Manish Bapna and John Talberth (2011), “What is a “Green Economy””, bài viết đã nêu lên khái niệm của kinh tế xanh, biểu hiện của kinh tế xanh ở một số quốc gia như Hàn Quốc, Trung Quốc, Mexico. Ngoài ra bài viết còn trình bày những điểm mới của kinh tế xanh, kinh tế xanh khác với phát triển kinh tế bền vững như thế nào và những thách thức khó khăn hay những khả năng và cơ hội của kinh tế xanh. Lalnazov (2015), “Kinh tế xanh”, bài thuyết trình khoa học tại Viện Tieu luan 8 Nghiên cứu Đông Bắc Á. Trong bài thuyết trình, tác giả đã đưa ra hàng loạt các khái niệm cũng như những ví dụ hết sức cụ thể về mô hình “kinh tế xanh” đang được áp dụng tại Nhật Bản, những mặt tích cực và tiêu cực mà nó đem lại cũng như một số quan điểm trái chiều của các chuyên gia ở nhiều lĩnh vực về mô hình kinh tế này.
Ba nội dung chính được trình bày và thảo luận trong buổi thuyết trình là: “ kinh tế xanh” và “tăng trưởng xanh” “ kinh tế nâu” (Brown Economy). Thực trạng của một số nước phát triển đã và đang chuyển đổi từ nền “kinh tế nâu” sang mô hình “kinh tế xanh” ( Nhật Bản, Trung Quốc…) và những ý kiến trái chiều của các chuyên gia ở các nước phát triển và đang phát triển về mô hình kinh tế xanh… Trong The Green Economy Report, UNEP (Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc), (2011), đã giới thiệu nền kinh tế xanh với khái niệm về “kinh tế xanh” năm 2008. Đặc biệt thông qua lời kêu gọi về Thỏa thuận Xanh Toàn cầu Mới (GGND) đã đề xuất các gói đầu tư công cũng như điều chỉnh giá cả nhằm kích hoạt sự chuyển đổi sang nền kinh tế xanh đồng thời củng cố nền kinh tế, giải quyết vấn đề việc làm và nạn đói nghèo.Pitelis, Jack Keenan, Vicky Pryce, (2011) trong cuốn “Green Business, Green Values, and Sustainability” [47] - Giá trị của kinh tế xanh và bền vững, Routledge, đã chỉ ra giá trị của màu xanh để từ đó thúc đẩy các doanh nghiệp, người tiêu dùng và các nhà hoạch định chính sách có thể đóng góp vào mục tiêu tạo ra của cải toàn cầu bền vững. Phân tích các vấn đề về chiến lược bền vững đối với kinh doanh hiện đại và khám phá những biến đổi trong giá trị, chiến lược và thực tiễn cần thiết cho các doanh nghiệp hiện đại để đạt được kinh doanh bền vững.
Cuốn sách còn cung cấp việc chuyển xanh trong kinh doanh của các lĩnh vực chính bao gồm tài chính, năng lượng, bán lẻ và các giải pháp khác nhau để phát triển bền vững. Đây được xem như các phương pháp tiếp cận bao gồm đạo đức, môi trường chiến lược thay thế, trách nhiệm của công ty và giảm thải Cacbon. b) Tại Việt Nam Tại Việt Nam, hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến vấn Tieu luan 9 đề hệ thống tài chính xanh, tuy nhiên có một số bài báo, đề tài,. nghiên cứu về xây dựng một nền kinh tế xanh hay tăng trưởng xanh.
Nghiên cứu của Nguyễn Thế Chính (2014) trình bày khái niệm tăng trưởng xanh, xem xét kinh nghiệm triển khai chiến lược xanh tại Pháp, Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc. Trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế cũng như thực tiễn tại Việt Nam, tác giả đã nêu lên một số vấn đề trọng tâm cần lưu ý khi thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh tại Việt Nam. Những khó khăn, thuận lợi cũng như tiềm năng xây dựng nền kinh tế xanh tại Việt Nam được phân tích trong một nghiên cứu của Tổng cục môi trường (2012) và một số biện pháp có thể chuyển dịch hiệu quả sang nền kinh tế xanh cho Việt Nam cũng được Trần Thanh Lâm (2013) đề xuất trong nghiên cứu của mình.