MỞ ĐẦU Dấu vết sinh vật có nguồn gốc từ ngƣời là một sản phẩm cụ thể của quá trình sống, có liên quan hoặc đƣợc hình thành trong các vụ việc mang tính hình sự cần đƣợc ghi nhận, thu lƣợm và giám định. Dấu vết sinh vật là đối tƣợng chính trong lĩnh vực giám định sinh học kỹ thuật hình sự, có giá trị truy nguyên cao. Trong đó, dấu vết tinh trùng, tinh dịch là loại dấu vết sinh vật đặc trƣng trong các vụ án có hoạt động xâm hại tình dục. Qua các hành vi xâm hại tình dục, sự tiếp xúc giữa thủ phạm và nạn nhân, luôn để lại dấu vết.
Các dấu vết hình thành và tồn tại do có sự tác động qua lại giữa cơ thể nạn nhân và thủ phạm hoặc dấu vết để lại tại hiện trƣờng [1, 2]. Các dấu vết tinh dịch và tinh trùng cũng là loại dấu vết có giá trị chứng minh tội phạm cao nhất, giúp cho cơ quan điều tra tìm ra chân tƣớng sự việc, thông qua: định hƣớng điều tra, cung cấp thông tin nhận dạng thủ phạm, chứng minh sự vô tội cho nghi phạm hoặc bị cáo, khẳng định hoặc bác bỏ lời khai của nạn nhân, nhân chứng, hoặc nghi phạm, cung cấp thông tin về hiện trƣờng vụ án, và cung cấp bằng chứng chứng thực sự xuất hiện của ngƣời hoặc sự việc bị cáo buộc. Trong các vụ việc hình sự, dấu vết tinh trùng, tinh dịch thƣờng xuất hiện và tồn tại trên các bộ phận của cơ thể, bao cao su, quần áo, giƣờng, chiếu, vật dụng cá nhân, tƣ trang… của nạn nhân hoặc đối tƣợng gây án. Thông qua quá trình giám định, giám định viên xác định và so sánh hồ sơ kiểu gen của đối tƣợng nghi vấn với kiểu gen thu đƣợc từ dấu vết tinh trùng, tinh dịch đó, sẽ là bằng chứng xác thực cho hành vi phạm tội của đối tƣợng.
Tuy nhiên, trong giám định sinh học hình sự, do đặc trƣng của dấu vết tinh trùng là đƣợc hình thành bởi sự tác động qua lại giữa cơ thể hoặc dịch tiết cơ thể của nạn nhân và đối tƣợng, nên dễ có sự lẫn, nhiễm giữa tế bào của đối tƣợng và nạn nhân (tế bào tinh trùng, tế bào biểu mô của đối tƣợng với tế bào biểu mô, tế bào máu kinh nguyệt của nạn nhân…). Một lƣợng lớn tế bào biểu mô của nữ giới tồn tại trong các dấu vết tinh trùng, tinh dịch có thể ngăn cản việc phát hiện nguồn DNA của ngƣời nam giới. Bên cạnh đó, trong một số vụ việc, đối tƣợng phạm tội có hành vi không xuất tinh, xuất tinh ngoài âm đạo, hoặc đối tƣợng đã thắt ống dẫn tinh cũng là những thách thức không nhỏ. Do đó, quá trình giám định từ phát hiện, thử định hƣớng, tách chiết, định lƣợng DNA, phân tích kết quả đều gặp những trở ngại, trong đó bƣớc tách chiết n 2 DNA có ý nghĩa quyết định.
Quy trình tách chiết DNA từ dấu vết tinh trùng, tinh dịch so với nhiều loại dấu vết khác là phức tạp và đòi hỏi phải sử dụng nhiều loại hóa chất hơn để phân tách các nguồn DNA trong hỗn hợp. Đối mặt với loại dấu vết này, các giám định viên thƣờng gặp khó khăn trong việc lựa chọn phƣơng pháp tách chiết tối ƣu để thu đƣợc các hồ sơ kiểu gen rõ ràng và hoàn chỉnh, giảm thiểu sự nhiễm, lẫn các nguồn DNA. Xuất phát từ tính cấp thiết và những yêu cầu thực tế kể trên, tác giả tiến hành Đề tài nghiên cứu: "Nghiên cứu, đánh giá hiệu quả một số phương pháp tách chiết dấu vết tinh trùng phục vụ công tác giám định sinh học kỹ thuật hình sự" với các mục tiêu và nội dung nhƣ sau: Mục tiêu nghiên cứu Phân tích, đánh giá đƣợc tính hiệu quả của ba phƣơng pháp tách chiết DNA từ dấu vết tinh trùng. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, chọn lựa ra phƣơng pháp tách chiết phù hợp, tối ƣu với một số dạng dấu vết tinh trùng, tinh dịch thƣờng gặp.
Nội dung nghiên cứu Thu thập, chọn lựa 30 mẫu dấu vết tinh trùng từ các vụ việc xâm hại tình dục thực tế xảy ra trong năm 2021 - 2022. Giám định định hƣớng, làm tiêu bản quan sát và khẳng định sự có mặt của tinh trùng trong 30 mẫu nghiên cứu. Đánh giá sơ bộ chất, lƣợng của dấu vết. Tách chiết DNA đối với 30 mẫu nghiên cứu theo ba phƣơng pháp: Phƣơng pháp sử dụng Chelex®, phƣơng pháp hấp phụ ái lực trên bề mặt hạt từ sử dụng bộ kít PrepFiler™ Forensic DNA Extraction và phƣơng pháp hấp phụ màng lọc silica trong bộ kít QIAamp DNA Micro.
Xác định hàm lƣợng, chất lƣợng DNA sau tách chiết của từng phƣơng pháp bằng phản ứng realtime PCR. Tiến hành PCR sản phẩm sau tách chiết sử dụng phức hợp 16 cặp mồi STR, phát hiện và phân tích kết quả bằng phƣơng pháp điện di mao quản. Đánh giá chất, lƣợng DNA thông qua phân tích biểu đồ điện di. Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS.
Biện luận kết quả. n 3 Những đóng góp của luận văn Kết quả của nghiên cứu giúp giám định viên định hƣớng, lựa chọn đƣợc phƣơng pháp tách chiết thích hợp với loại dấu vết tinh trùng trong các vụ án cụ thể, giúp cho việc khai thác hiệu quả tối đa thông tin từ dấu vết tinh trùng phục vụ công tác điều tra, xử lý tôi phạm. Kết quả nghiên cứu đóng góp cụ thể, thiết thực khi đƣa ra định hƣớng công nghệ có thể đƣợc triển khai trong chủ trƣơng mở rộng, phân cấp công tác giám định DNA cho các Phòng PC09 - Công an tỉnh, thành phố thuộc hệ lực lƣợng Kỹ thuật hình sự Công an nhân dân. Các kết quả nghiên cứu là tƣ liệu mới, có giá trị tham khảo trong đào tạo và nghiên cứu khoa học, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học hình sự.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. ĐẠI CƢƠNG VỀ DẤU VẾT TINH TRÙNG, TINH DỊCH 1. Khái niệm tinh trùng, tinh dịch và dấu vết tinh trùng, tinh dịch 1. Tinh trùng Tinh trùng là giao tử đực, là sản phẩm của quá trình sinh tinh ở ngƣời nam giới.
Tinh trùng sau khi ra khỏi cơ thể ngƣời nam giới, tùy thuộc vào môi trƣờng tiếp xúc sẽ quyết định thời gian tồn tại của các tế bào tinh trùng. Trong môi trƣờng nƣớc nóng hoặc tiếp xúc với hóa chất, các tế bào tinh trùng chỉ có thể tồn tại không quá vài giây. Trong môi trƣờng nƣớc ấm, các tế bào tinh trùng có thể tồn tại khoảng vài phút. Trên da hoặc trên các bề mặt khác, các tế bào tinh trùng có thể tồn tại từ khoảng 15 phút đến 30 phút.
Trong điều kiện đông lạnh với nhiệt độ ổn định, tinh trùng có thể tồn tại vô thời hạn. Ở nhiệt độ thấp khoảng -196°C, các tế bào tinh trùng ở trong một loại hoạt động lơ lửng, có nghĩa là tất cả các chức năng thiết yếu của chúng đã hoàn toàn ngừng hoạt động. Trong âm đạo, thời gian phân hủy của tinh trùng phụ thuộc vào tuổi của nạn nhân (trƣớc hoặc sau khi dậy thì) và nếu tinh trùng ở trong cổ tử cung, thời gian phân hủy có thể trên 72 giờ [3]. Trong trƣờng hợp nạn nhân ở giai đoạn hậu sinh sản, tinh trùng có thể vẫn di chuyển trong dịch tiết âm đạo từ 6 đến 12 giờ và trong cổ tử cung đến 5 ngày [4]; tinh trùng không di động có thể đƣợc tìm thấy trong các vết bẩn của dịch tiết âm đạo từ 12 đến 48 giờ sau khi xuất tinh [3].
Thời gian phân hủy của tinh trùng ở các bé gái trƣớc tuổi dậy thì tƣơng đối ngắn hơn do không có chất nhầy cổ tử cung [3]. Trƣờng hợp dấu vết tinh trùng khô bám trên quần áo, vẫn có thể đƣợc phát hiện trong thời gian trên 1 năm [5]. Tinh dịch Tinh dịch là hỗn hợp dịch đi ra khỏi ống sinh tinh khi phóng tinh. Tinh dịch bao gồm: Tinh trùng và dịch từ tinh hoàn (chiếm 10% tổng số), dịch túi tinh (chiếm 60%), dịch tuyến tiền liệt (chiếm 30%).
Tinh trùng chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ hơn 5% tổng thể tích tinh dịch. Tinh dịch sau khi ra khỏi cơ quan sinh dục nam, ban đầu là một dịch đặc quánh. Nhờ enzyme phân hủy protein ở tuyến tiền liệt, tinh dịch hóa lỏng ở nhiệt độ bình thƣờng sau 10 - 30 phút [6]. n 5 Thành phần tinh dịch có tới 45 - 80% là dịch tuyến tiền liệt.
Đây là chất lỏng màu trắng nhƣ sữa, có tính axit (pH khoảng 6,5), có chứa nhiều protein, axit amin, các enzyme,… đặc biệt là enzyme photphatase axit. Enzyme photphatase axit có hàm lƣợng cao gấp 200 - 400 lần so với các dịch cơ thể khác, vì vậy nó đƣợc coi là chất chỉ thị để xác định dấu vết tinh dịch trong các vụ án đặc trƣng bởi hành vi xâm hại tình dục. Protein đặc trƣng của tuyến tiền liệt là glycoprotein P30 (prostatic specific antigen), việc xác định kháng nguyên P30 này cho phép xác định chính xác tinh dịch ngƣời. Ngoài glycoprotein P30, trong số các loại protein trong dịch tuyến tiền liệt, có spermin và cholin là hai protein thành phần có hàm lƣợng cao trong dịch tuyến tiền liệt.
Spermin bị oxy hóa bởi diaminoxydase có trong thành phần tinh dịch, làm cho tinh dịch có mùi đặc trƣng. Spermin kết hợp với axit picric để tạo thành tinh thể picrat spermin hình kim màu vàng, cholin tạo tinh thể đặc trƣng trong dung dịch iot, đây là hai phản ứng đƣợc dùng để nhận biết sự có mặt của tinh dịch [7, 8]. Dịch túi tinh chiếm 12 - 32% thể tích của tinh dịch, là chất dịch trong suốt, nhớt, hơi vàng do hàm lƣợng sắc tố flavin cao. Sắc tố này có tính phát quang khi chiếu tia tử ngoại vào nên nó cũng đƣợc áp dụng trong phát hiện dấu vết tinh dịch [9].
DNA trong tinh trùng DNA của tinh trùng động vật có vú là DNA của sinh vật nhân chuẩn nhỏ gọn đƣợc biết đến nhiều nhất, đƣợc cuộn chặt hơn sáu lần so với các nhiễm sắc thể nguyên phân của tế bào soma [10, 11]. Ở động vật có vú, DNA của tinh trùng đƣợc cố định vào một cấu trúc duy nhất đƣợc gọi là vòng hạt nhân [11-13]. Các nghiên cứu trƣớc đây đƣợc thực hiện về sự ngƣng tụ chất nhiễm sắc trong quá trình hình thành tinh trùng chỉ ra rằng quá trình này bắt đầu từ đầu trƣớc của đầu tinh trùng và tiến dần về phía đuôi [11, 13, 14]. Trong quá trình ngƣng tụ chất nhiễm sắc, sau khi các protein histone đƣợc cấu trúc lại bởi các protein chuyển tiếp, chúng đƣợc tái cấu trúc một lần nữa để hoàn thiện hình dạng của chúng bằng các protamine là protein liên kết DNA của tinh trùng [15].