Mở đầu. Chương này trình bày về lý do nghiên cứu, mục tiêu, đối tượng, phương pháp, ý nghĩa của nghiên cứu. • Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước Chương này trình bày các lý thuyết liên quan đến các thành phần của vốn lưu động, khả năng sinh lợi, quản trị vốn lưu động của công ty và mối quan hệ giữa chúng. Phần cuối của chương trình bày các nghiên cứu trước đây.
• Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu. Chương này trình bày quy trình nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, mô tả và đo lường các biến và giả thuyết nghiên cứu. Trình bày các phương pháp lựa chọn mô hình và phân tích hồi quy. • Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu.
Chương này sẽ bắt đầu với phần trình bày và phân tích các số liệu thống kê mô tả của nghiên cứu. Sau đó, phân tích tương quan Pearson giữa các biến và phân tích hồi quy. • Chương 5: Kết luận và khuyến nghị. Chương này sẽ đưa ra kết luận rằng nghiên cứu này đã đưa ra và cung cấp câu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu cũng như những đóng góp, hạn chế, khuyến nghị của nghiên cứu.
4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Chương này trình bày các lý thuyết liên quan đến các thành phần của vốn lưu động đó là chu kỳ chuyển đổi tiền mặt, kỳ thu tiền bình quân, kỳ luân chuyển hàng tồn kho, kỳ thanh toán bình quân. Tiếp theo, trình bày lý thuyết về khả năng sinh lợi, quản trị vốn lưu động của công ty và mối quan hệ giữa chúng. Phần cuối của chương trình bày các nghiên cứu trước đây. Lý thuyết hiệu quả hoạt động của công ty Bititci, Carrie và McDevitt (1997) định nghĩa quản trị hiệu quả của công ty như một "quá trình mà theo đó các công ty quản trị thành quả của mình phù hợp với mục tiêu và chiến lược".
Định nghĩa này thường được sử dụng trong nghiên cứu quản trị. Theo Bititci, Carrie & McDevitt, nó là mục tiêu của quá trình đó để cung cấp hệ thống kiểm soát toàn diện, là nơi mà các chiến lược của công ty được triển khai đến tất cả các quy trình kinh doanh, các hoạt động, nhiệm vụ và từng nhân viên, và thông tin phản hồi thu được thông qua hệ thống quản trị hiệu quả cho phép có các quyết định quản trị thích hợp. Mục đích cuối cùng của quá trình đó là để cải thiện hiệu quả của công ty. Đo lường hiệu quả là một phần quan trọng của quản trị hiệu quả.
Bằng cách đo lường, sẽ chuyển đổi thực tế phức tạp thành những khái niệm số đơn giản mà có thể dễ dàng truyền đạt và thực thi (Lebas, 1995). Theo Lebas, đơn giản hóa các thực tế bằng cách đo lường là điều kiện tiên quyết cho việc quản trị thành công. Tương tự như vậy, Bititci và ctg (1997) cho rằng đo lường hiệu quả là trung tâm của quá trình quản trị hiệu quả và nó có tầm quan trọng đối với quản trị hiệu quả. Để đo lường hiệu quả hoạt động của công ty có thể đo lường bằng thước đo tài chính và phi tài chính.
Nhưng mục tiêu trực tiếp nhất đối với các ông chủ doanh nghiệp, các nhà quản lý là tập trung vào các thước đo tài chính. Những thước đo này bao gồm lợi nhuận, doanh thu, lợi nhuận trên vốn đầu tư (ROI) (Smith, Bracker, và Miner 1987), lợi nhuận trên doanh thu (Kean và ctg 1998), và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (Richard 2000; Barney 1997), lợi nhuận trên tài sản (ROA), lợi nhuận 5 trước thuế (EBIT), hay tỷ lệ tăng trưởng doanh thu (Ittner & Larcker, 1997; Fraquelli & Vannoni, 2000; Crabtree & DeBusk, 2008), QÈs tobin tỷ số (Jame Tobin, 1969). Các thước đo tài chính là mục tiêu, vì nó đơn giản, dễ hiểu và dễ tính toán. Nhưng trong nhiều trường hợp, do tính bảo mật, không thể tiếp cận, (Covin và Slevin, 1989), tính đầy đủ (Sapienza và Grimm 1997), tính chính xác (Brush Wanderwerf và 1992) và tính đúng thời hạn (Sapienza, Smith, và Gannon 1988) của dữ liệu để so sánh giữa các bộ phận là đầy thách thức và không hiệu quả.
Hơn nữa, lợi nhuận có thể được làm sai lệch và điều chỉnh. Khi đó, cách có thể áp dụng là các thước đo phi tài chính, mặc dù mang tính chủ quan, nhưng nó bổ sung cho các thước đo tài chính (Covin và Slevin 1989; Begley và Boyd 1987; Sandberg và Hofer 1987). Sự kết hợp của hai thước đo giúp cho chủ doanh nghiệp, nhà quản lý có được cái nhìn rộng hơn về đo lường và so sánh hiệu quả hoạt động của công ty, đặc biệt là mức độ hiệu quả và hiệu quả trong việc sử dụng các nguồn lực, khả năng cạnh tranh và sẵn sàng để đối mặt với những áp lực ngày càng tăng từ bên ngoài bao gồm cả sự toàn cầu hoá. Tùy thuộc vào thời gian của một dự án hay một kế hoạch, kết quả và lợi nhuận có thể được đo lường dựa trên các thước đo ngắn hạn hay dài hạn.
Các thước đo ngắn hạn, thông thường dựa vào lợi nhuận tài chính, là để đánh giá các dự án sẽ hoàn thành trong vòng mười hai tháng, trong khi các thước đo dài hạn, thông thường dựa trên lợi nhuận phi tài chính, rất hữu ích cho các dự án mà có thể mất mười hai tháng trở lên. Các thước đo tài chính ngắn hạn, trong đó bao gồm doanh thu và lợi nhuận, phản ánh hiệu quả hoạt động hiện tại của một công ty có thể không nhất thiết phải đáp ứng như một hướng dẫn hữu ích hay dự đoán cho sự tồn tại lâu dài của công ty (Birley và Westhead 1994). Tuy nhiên, bằng cách cộng dồn doanh thu và lợi nhuận, có thể trở thành một nhóm nguồn lực hữu ích cho sự phát triển, kế hoạch mở rộng trong tương lai, giúp thúc đẩy công ty lên trên ngưỡng tồn tại của nó (Barney 1997) và hỗ trợ chiến lược tăng trưởng của công ty (Haber và Reichel 2005). Phillips (1999) lập luận rằng, khả năng sinh lợi trong ngắn hạn là một yếu tố quan trọng trong khả năng của công ty để đạt được mục tiêu dài hạn như tăng thị phần, thương hiệu và danh tiếng.
Khả năng sinh lợi thấp trong một khoảng thời gian cụ thể, có thể không phản ánh sự kém cỏi của các chủ sở hữu, người quản 6 lý, mà do đầu tư lớn đang được chuyển vào các dự án dài hạn với mục đích tăng trưởng trong tương lai hoặc để đáp ứng nhu cầu nội bộ (ví dụ nhu cầu tăng lương đột ngột của người lao động) hoặc yêu cầu từ bên ngoài (ví dụ, đáp ứng các quy định pháp luật). Đo lường hiệu quả hoạt động của công ty nên dựa trên phương pháp tiếp cận toàn diện trong đó kết hợp thước đo tài chính và phi tài chính cũng như các yếu tố thời gian. McDougall và Oviatt (1996) báo cáo rằng sự gia tăng khối lượng bán hàng là do những nỗ lực trong quá khứ và kết quả của sự thỏa mãn của khách hàng. Các thành phần của vốn lưu động Các khoản phải thu có thể được xem là các khoản cho vay ngắn hạn đối với các khách hàng được đưa ra bởi các nhà cung cấp.
Tín dụng cho khách hàng là một phương thức quan trọng để đảm bảo doanh số bán hàng (Berry và Jarvis, 2006). Mặc dù tổng số nợ phải thu trên bảng cân đối kế toán của một công ty có thể cố định theo thời gian, nhưng các thành phần của nó liên tục thay đổi và do đó theo dõi cẩn thận là cần thiết (Firth, 1976). Khi các khoản phải thu tiếp tục gia tăng và các nguồn dự trữ không có sẵn, vì vậy có thể được xem như là chi phí cơ hội. Theo Berry và Jarvis (2006) một công ty thiết lập chính sách về việc xác định lượng tối ưu của các khoản phải thu, phải xem xét các yếu tố sau: - Sự cân bằng giữa đảm bảo doanh thu, lợi nhuận và chi phí cơ hội, chi phí hành chính của việc gia tăng các khoản phải thu.
- Mức độ rủi ro sẵn sàng chấp nhận khi mở rộng tín dụng cho khách hàng, bởi vì khách hàng này có thể mất khả năng thanh toán khi đến hạn trả nợ. Và một công ty khi thiết lập chính sách quản trị tín dụng bán hàng phải trả lời được các câu hỏi sau (Trần Ngọc Thơ và ctg, 2007): - Doanh nghiệp đề nghị bán hàng hay dịch vụ của mình với điều kiện gì? Dành cho khách hàng thời gian bao lâu để thanh toán tiền mua hàng? Doanh nghiệp có chuẩn bị để giảm giá cho khách hàng thanh toán nhanh không? - Doanh nghiệp cần đảm bảo gì về số tiền khách hàng nợ? Chỉ cần khách 7 hàng ký vào biên nhận hay buộc khách hàng ký vào một loại giấy nhận nợ chính thức nào khác? - Phân loại khách hàng: Loại khách hàng nào có thể trả tiền vay ngay? Để tìm hiểu, doanh nghiệp có tìm hiểu hồ sơ quá khứ hay các báo cáo tài chính đã qua của khách hàng không? Hay doanh nghiệp dựa vào chứng nhận của ngân hàng? - Doanh nghiệp chuẩn bị dành cho từng khách hàng với những hạn mức tín dụng như thế nào để tránh rủi ro? Doanh nghiệp có từ chối cấp tín dụng cho các khách hàng mà doanh nghiệp nghi ngờ? Hay doanh nghiệp chấp nhận rủi ro có một vài món nợ khó đòi và điều này xem như là chi phí của việc xây dựng một nhóm lớn khách hàng thường xuyên? - Biện pháp nào mà doanh nghiệp áp dụng thu nợ khi đến hạn? Doanh nghiệp theo dõi thanh toán như thế nào? Doanh nghiệp làm gì với những khách hàng trả tiền miễn cưỡng hay đã kiệt sức vì họ? Khoản phải trả thì ngược lại với các khoản phải thu, thay vì đưa ra khoản tín dụng bán hàng, công ty nhận được một khoản tín dụng. Hampton và Wagner (1989) giải thích khoản phải trả như sau: Khi một công ty thực hiện mua hàng trả chậm, nó phát sinh nghĩa vụ trả tiền cho các hàng hoá được mua theo các điều khoản được đưa ra bởi người bán và khoản mua hàng hóa này được ghi nhận vào khoản phải trả cho đến khi thanh toán tiền. Khoản phải trả có thể được xem như là một khoản vay ngắn hạn, hay nói cách khác, đây là một nguồn tài trợ.
Chính sách về khoản phải trả điển hình là "2 trong 10, tối đa 30". Điều này có nghĩa là nếu một công ty thanh toán trong vòng 10 ngày đầu nhận được chiết khấu 2% , nếu không, phải thanh toán toàn bộ đơn hàng trong vòng ba mươi ngày mà không có bất kỳ phần trăm chiết khấu nào.