Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết về nguồn nhân lực, quản trị nguồn nhân lực, hiệu suất làm việc, mối quan hệ giữa quản trị nguồn nhân lực và hiệu suất làm việc, các nghiên cứu đã thực hiện trước đây. Từ đó, đưa ra mô hình nghiên cứu các nhân tố quản trị nguồn nhân lực đến hiệu suất làm việc của nhân viên ngân hàng. Khái niệm nguồn nhân lực Tùy theo cách hiểu và cách tiếp cận khác nhau mà có cách nhìn nhận khác nhau về nguồn nhân lực.
Theo Begg, Fischer và Dornbusch (1995), nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích lũy được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai. Giống như nguồn nhân lực vật chất, nguồn nhân lực là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích tạo ra thu nhập trong tương lai. Theo Phạm Minh Hạc (2001), nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó. Nguồn nhân lực là nguồn lực con người, là yếu tố quan trọng, năng động nhất của tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội.
Nguồn nhân lực có thể xác định cho một quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phương và nó khác với các nguồn lực khác (tài chính, đất đai, công nghệ) ở chỗ nguồn lực con người với hoạt động lao động sáng tạo, tác động vào thế giới tự nhiên, biến đổi giới tự nhiên vào trong quá trình lao động nảy sinh các quan hệ lao động và quan hệ xã hội. Từ đó, có thể hiểu nguồn nhân lực của một tổ chức, doanh nghiệp được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo mục tiêu nhất định. (Trần Kim Dung, 2008) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Quản trị nguồn nhân lực 2.
Khái niệm quản trị nguồn nhân lực Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về quản trị nguồn nhân lực. Theo Noe, Hollenbeck, Gerhart, Wright (2003), QTNNL là tất cả các hoạt động, chính sách và các quyết định quản lý liên quan và có ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa doanh nghiệp và cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp đó. QTNNL bao gồm các hoạt động được thiết kế để cung cấp và điều phối các nguồn lực con người của một tổ chức.Price (2004), quản trị nguồn nhân lực là khoa học về quản lý con người dựa trên niềm tin cho rằng nhân lực đóng vai trò quan trọng bậc nhất tới sự thành công lâu dài của tổ chức hay doanh nghiệp. Một tổ chức/ doanh nghiệp có thể tăng lợi thế cạnh tranh của mình bằng cách sử dụng người lao động một cách hiệu quả, tận dụng kinh nghiệm và sự khéo léo của họ nhằm đạt được các mục tiêu đã đặt ra.
Quản trị nguồn nhân lực nhằm mục đích tuyển chọn được những người có năng lực, nhanh nhạy và cống hiến trong công việc, quản lý hoạt động và khen thưởng kết quả hoạt động cũng như phát triển năng lực của họ. Nhìn chung, QTNNL là hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo – phát triển và duy trì con người của một tổ chức nhằm đạt được kết quả tối ưu cho cả tổ chức lẫn nhân viên (Trần Kim Dung, 2008). Quản trị nguồn nhân lực đóng vai trò trung tâm trong việc thành lập các tổ chức và giúp cho các tổ chức tồn tại và phát triển trên thị trường. Tầm quan trọng của QTNNL trong tổ chức xuất phát từ vai trò quan trọng của con người.
Con người là yếu tố cấu thành nên tổ chức, vận hành tổ chức và quyết định sự thành bại của tổ chức. Nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực không thể thiếu được của tổ chức nên QTNNL chính là một lĩnh vực quan trọng của quản lý trong mọi tổ chức. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Công tác QTNNL được thực hiện rất đa dạng và trong thực tế có nhiều thay đổi phù hợp với nhiều loại hình tổ chức, doanh nghiệp. Theo Trần Kim Dung (2008) có thể phân chia công tác QTNNL theo ba nhóm chức năng sau: - Nhóm chức năng thu hút nguồn nhân lực: Nhóm chức năng này nhằm đảm bảo cho tổ chức có đủ số lượng nhân viên với các yêu cầu phù hợp với công việc.
Nhóm chức năng này bao gồm các hoạt động QTNNL là phân tích công việc; Hoạch định nhân lực; Tuyển dụng nhân viên. - Nhóm chức năng duy trì nguồn nhân lực: Nhóm chức năng này nhằm đảm bảo cho tổ chức có duy trì nhân viên và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực. Nhóm chức năng này bao gồm: Đánh giá nhân viên; Lương bổng và đãi ngộ; Quan hệ lao động. - Nhóm chức năng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực: Nhóm chức năng này nhằm nâng cao năng lực của nhân viên, đảm bảo cho nhân viên trong tổ chức có các kỹ năng, trình độ lành nghề cần thiết để hoàn thành công việc.
Nhóm chức năng này bao gồm: Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực; Phát triển nghề nghiệp cá nhân. Thu hút nguồn nhân lực Mục tiêu của quản trị nguồn nhân Đào tạo, lực Duy trì phát triển nguồn nhân nguồn nhân lực lực Hình 2.1: Các yếu tố thành phần của quản trị nguồn nhân lực Nguồn: Quản trị nguồn nhân lực_Trần Kim Dung (2008) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Thành phần của quản trị nguồn nhân lực Các nghiên cứu trước đây đã đưa ra các thành phần của quản trị nguồn nhân lực như sau: - Theo mô hình nghiên cứu của Singh (2004), quản trị nguồn nhân lực gồm 7 thành phần: Tuyển dụng; Xác định công việc; Đào tạo; Hoạch định nghề nghiệp; Thu hút nhân viên tham gia vào các hoạt động; Đánh giá nhân viên; Chính sách lương. - Theo nghiên cứu của Pfeffer (1998), có 7 thành phần được đề xuất: Tuyển chọn nhân viên mới; Bảo đảm ổn định trong công việc; Đội tự quản và phi tập trung trong việc ra quyết định; mức đãi ngộ; Mở rộng đào tạo; Giảm khoảng cách về chức vụ và các rào cản như giảm khoảng cách về tiền lương; Mở rộng việc chia sẻ thông tin và kết quả tài chính trong tổ chức.
- Theo mô hình của Dessler (2007), có 7 thành phần được nghiên cứu: Đánh giá hiệu quả công việc; Phân tích công việc; Tuyển dụng; Chính sách lương; Đào tạo và phát triển; Mối quan hệ lao động; Lựa chọn. - Theo mô hình nghiên cứu của Pathak, Budhwar, Singh và Hannas (2005), có 11 thành phần được đưa ra: Tuyển dụng; Tính linh hoạt/ làm việc nhóm; Xã hội hóa; Thăng tiến nội bộ; Sự an toàn trong công việc; Sự tham gia cùa nhân viên; Vai trò của nhân viên; Cam kết học tập; Trả công lao động; Quyền sở hữu của nhân viên; Sự hòa hợp. - Theo mô hình nghiên cứu của Tessema và Soeters (2006) đã tiến hành nghiên cứu trên 8 chính sách nhân sự bao gồm: Phân loại và bố trí nhân sự; Thực hành lựa chọn; Hướng dẫn; Thưởng; Thăng tiến, Hiệu suất làm việc của nhân viên; Quy trình khiếu nại; Trợ cấp an sinh xã hội. - Theo mô hình nghiên cứu của nhóm tác giả Zulfqar Ahmad Bowra, Bilal Sharif, Affan Saeed và Muhammad Kabir Niazi (2011), quản trị nguồn nhân lực có 3 nhân tố chính: chính sách lương (Compensation practices); Đánh giá hiệu quả làm việc (Performance evaluation); Chính sách thăng tiến (Promotion practices).
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Nhìn chung, có rất nhiều nhân tố có thể tác động đến hiệu suất làm việc của nhân viên, nhưng luận văn này dựa theo mô hình nghiên cứu của nhóm tác giả Zulfqar Ahmad Bowra, Bilal Sharif, Affan Saeed và Muhammad Kabir Niazi (2011) đã thực hiện nghiên cứu về tác động của quản trị nguồn nhân lực đến hiệu suất làm việc của nhân viên ngân hàng tại Pakistan, nay áp dụng nghiên cứu tại Việt Nam. Bên cạnh đó, tuy đã có nhiều nghiên cứu về tác động của quản trị nguồn nhân lực ở Việt Nam nhưng chưa có nghiên cứu nào về tác động của quản trị nguồn nhân lực lên hiệu suất làm việc của nhân viên ngành ngân hàng sử dụng mô hình 3 nhân tố trên. Hơn nữa khi nghiên cứu về những nước đang phát triển, Cohen và cộng sự (1997) đã tóm tắt các vấn đề về quản trị nguồn nhân lực mà các nước này đang gặp phải như sau: mức lương thấp nên thiếu động cơ thúc đẩy người lao động làm việc; Chính sách thăng tiến hướng đến người có thâm niêm hơn người có hiệu suất làm việc cao; Sự quản lý, giám sát, đánh giá kết quả làm việc chưa hợp lý. Điều này dẫn đến hiệu suất làm việc của nhân viên không cao, không khuyến khích người lao động làm việc.
Ba vấn đề trên được đánh giá là quan trọng, là những rào cản không nhỏ trong con đường phát triển nguồn nhân lực mà các nước đang phát triển phải đối mặt và tập trung tìm hướng giải quyết. Do đó, trong nghiên cứu này sẽ tập trung nghiên cứu ba thành phần của quản trị nguồn nhân lực là chính sách lương (Compensation practices), đánh giá hiệu quả làm việc (Performance evaluation) và chính sách thăng tiến (Promotion practices), cụ thể như sau: Chính sách lương: Hiện nay, tiền lương đóng vai trò quan trọng trong đời sống của người lao động, nó quyết định sự ổn định, phát triển của nền kinh tế và kinh tế của chính gia đình người lao động. Do đó, mức lương mà người lao động nhận được phải đủ và xứng đáng nhằm đáp ứng lại sức lao động đã bỏ ra cũng như đáp ứng được giá trị tinh thần cơ bản của họ trong cuộc sống để có thể làm động lực thúc đẩy họ trong công việc, từ đó đạt hiệu suất cao hơn. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Theo Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2006), quan điểm về khái niệm tiền lương ở các nước trên thế giới là khác nhau và được hiểu như sau: Ở Pháp, “sự trả công được hiểu là tiền lương, hoặc lương bổng cơ bản, bình thường hay tối thiểu và mọi thứ lợi ích, được trả trực tiếp hay gián tiếp bằng tiền hay hiện vật mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo việc làm của người lao động”.