CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ NỘI TẠI TỚI DỰ BÁO KHẢ NĂNG SINH LỜI 1. Khái quát về dự báo tài chính Dự báo tài chính được hiểu là việc ước đoán tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong những kỳ kinh doanh tương lai, thể hiện qua những chỉ tiêu tài chính trọng yếu và tổng hợp như doanh thu, chi phí, lợi nhuận dự báo, tài sản, nguồn vốn, nhu cầu vốn dự báo, … Trên thực tế, những thuật ngữ như dự báo, dự kiến và dự toán thường được sử dụng với ý nghĩa tương đồng nhau và có thể thay thế cho nhau trong hầu hết các trường hợp. Dự báo tài chính là một khâu quan trọng của kế hoạch hóa tài chính doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp nhận thức và phát hiện những vấn đề tài chính có thể phát sinh trong tương lai, từ đó xây dựng những phương án, kế hoạch đối phó sao cho phù hợp, như kế hoạch hóa lợi nhuận và kế hoạch hóa ngân quỹ, góp phần hiện thực hóa chiến lược tài chính và chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Dự báo tài chính cần chú trọng sự chính xác, hợp lý, tạo cơ sở đáng tin cậy cho nhà quản trị doanh nghiệp xây dựng các kế hoạch tài chính cho tương lai, đồng thời cũng nên cân nhắc sự thuận tiện, dễ hiểu, dễ áp dụng của quá trình dự báo.
Tùy theo độ dài thời gian của kỳ dự báo, dự báo tài chính có thể phân chia thành dự báo tài chính ngắn hạn với thời gian dự báo trong khoảng 1 năm tới, có thể chi tiết hóa thành dự báo cho từng quý, thậm chí từng tháng, và dự báo tài chính dài hạn cho nhiều năm trong tương lai. Thông thường, dự báo tài chính ngắn hạn được các nhà nghiên cứu cũng như doanh nghiệp chú trọng hơn do tính cấp thiết của vấn đề cũng như khả năng dự báo chính xác hơn trong ngắn hạn. Quy trình của dự báo tài chính bao gồm ba giai đoạn: 1) Thu thập thông tin cần thiết cho dự báo tài chính, bao gồm các thông tin bên trong / bên ngoài doanh nghiệp, thông tin tài chính / phi tài chính, thông tin định tính / định lượng…; 2) Phân tích, xử lý thông tin và soạn thảo dự báo dựa trên những phương pháp dự báo tài chính phù hợp cho kỳ kinh doanh được dự báo và 3) Hoàn thiện dự báo, bao gồm đối chiếu kết quả dự báo với mục tiêu đề ra và điều chỉnh một số giả định cũng như kết quả dự báo nếu cần thiết. Thông thường dự báo tài chính bắt đầu bằng dự báo doanh thu.
Đây có thể xem là mấu chốt của dự báo tài chính nhưng cũng thường là nội dung dự báo phức tạp nhất, 8 đòi hỏi kiến thức, kinh nghiệm và sự cân nhắc kỹ lưỡng của chuyên gia dự báo. Nếu doanh thu được dự báo quá cao, doanh nghiệp có thể sẽ lên kế hoạch đầu tư vào tài sản cố định và tài sản lưu động quá mức cần thiết, dẫn tới nhu cầu huy động vốn quá lớn trở thành gánh nặng cho doanh nghiệp, làm giảm dòng tiền tự do và thị giá cổ phiếu. Ngược lại, nếu doanh thu được dự báo quá thấp, doanh nghiệp sẽ không đầu tư đủ vào những tài sản trên, dẫn tới không thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu của thị trường, có nguy cơ mất thị phần, kết quả kinh doanh giảm sút. Do đó việc dự báo doanh thu một cách hợp lý, chính xác là yêu cầu mang tính quyết định đối với sự thành công của dự báo tài chính doanh nghiệp (Tất nhiên trên thực tế việc phát sinh chênh lệch giữa giá trị dự báo với giá trị thực tế của một chỉ tiêu tài chính là điều không thể tránh khỏi, bởi không ai có thể biết chắc chắn tương lai sẽ diễn biến như thế nào, nhưng một chuyên gia dự báo tài chính có năng lực cần phải vận dụng những phương pháp dự báo tài chính một cách hiệu quả nhất để có thể hạn chế tối đa những sai số trên).
Để dự báo doanh thu, trước hết chuyên gia dự báo cần xem xét doanh thu trong quá khứ, thông thường từ 5 đến 10 năm gần nhất, xác định tỷ lệ tăng trưởng doanh thu thường niên của từng năm và tỷ lệ tăng trưởng doanh thu bình quân của cả giai đoạn này. Tỷ lệ tăng trưởng doanh thu bình quân trong quá khứ có thể được xác định theo một trong ba cách sau: - Trung bình cộng của tỷ lệ tăng trưởng doanh thu từng năm. Ví dụ doanh thu tăng 20% trong một năm và giảm 10% trong năm tiếp theo, khi đó tỷ lệ tăng trưởng doanh thu bình quân của 2 năm này là [20% + (-10%)]/2 = 5%. Cách tính này tuy đơn giản nhưng lại có nhược điểm là thường ước lượng tỷ lệ tăng trưởng doanh thu bình quân cao hơn thực tế.
Ví dụ doanh thu tăng gấp đôi (100%) trong một năm rồi giảm một nửa (- 50%) trong năm tiếp theo – Trường hợp này doanh thu thực tế không hề tăng sau 2 năm (tỷ lệ tăng trưởng thực tế bằng 0%) nhưng nếu tính theo phương pháp trên thì vẫn đạt tỷ lệ tăng trưởng doanh thu bình quân là 25% > 0. - Phương pháp CAGR (Compounded annual growth rate): Tỷ lệ tăng trưởng doanh thu bình quân hàng năm, ký hiệu CAGR, được xác định dựa trên phương trình St = S0 × (1 + CAGR)t (1), trong đó S0 và St lần lượt là doanh thu của năm bắt đầu và năm kết thúc của giai đoạn được xem xét (kéo dài qua t năm). Cách tính này khắc phục được nhược điểm của cách tính bình quân số học nêu trên, nhưng lại không phù hợp nếu doanh thu của một vài năm thuộc giai đoạn được xem xét không thỏa mãn phương trình (1), nói cách khác là chúng biến động không theo xu hướng được xác định bởi phương trình trên và khi thể hiện trên đồ thị thì doanh thu của những năm này tương ứng với những điểm nằm ngoài đường đồ thị hàm St = S0 × (1 + CAGR)t. Khi đó tỷ lệ tăng trưởng doanh thu 9 bình quân tính theo CAGR không thể hiện chính xác xu hướng biến động của doanh thu trong quá khứ.
- Phương pháp hồi quy tuyến tính: Dựa vào số liệu quá khứ, chuyên gia dự báo có thể chạy hồi quy tuyến tính St = β0 + β1t + ut (2), trong đó St là doanh thu của từng năm trong quá khứ, t là thời kỳ, ut là số hạng nhiễu. Kết quả ước lượng β1 cho biết tốc độ tăng trưởng doanh thu thường niên trong quá khứ dưới dạng giá trị tuyệt đối, đo lường bằng đơn vị tiền tệ. Một cách khác, nếu đặt biến phụ thuộc là lnSt, ta có phương trình hồi quy lnSt = λ0 + λ1t + ut (3), khi đó kết quả ước lượng λ1 cho biết tốc độ tăng trưởng doanh thu dưới dạng giá trị tương đối hay tỷ lệ phần trăm tăng trưởng doanh thu thường niên trong quá khứ. Xác định tỷ lệ tăng trưởng doanh thu trong quá khứ mới chỉ là bước đầu tiên trong dự báo doanh thu.
Để đưa ra mức dự báo cụ thể cho doanh thu, nhà nghiên cứu còn phải xem xét các yếu tố như tình trạng nền kinh tế trong nước cũng như toàn cầu, tình hình ngành nghề, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, … Theo Palepu và cộng sự (2007), những vấn đề trên có thể được phân tích phục vụ cho công tác dự báo doanh thu theo định hướng như sau: Trước hết, nhà nghiên cứu tiến hành phân tích ngành kinh doanh, đánh giá khả năng sinh lợi của ngành nghề mà doanh nghiệp tham gia, dựa trên 5 nguồn lực cạnh tranh là (1) Sự cạnh tranh giữa các hãng hiện tại, (2) Sự đe dọa từ các đối thủ tiềm năng, (3) Sự đe dọa của các sản phẩm thay thế, (4) Sức mạnh đàm phán của người mua và (5) Sức mạnh đàm phán của người bán – nhà cung cấp. Mức độ của mỗi nguồn lực cạnh tranh này lại phụ thuộc vào những yếu tố cụ thể được thể hiện trong sơ đồ 1. Sau phân tích cấu trúc ngành và tiềm năng sinh lợi của ngành nghề, nhà nghiên cứu tiếp tục phân tích chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Nội dung này bao hàm hai vấn đề là phân tích chiến lược cạnh tranh và phân tích chiến lược công ty.
Phân tích chiến lược cạnh tranh cần xác định được chiến lược mà doanh nghiệp theo đuổi để định vị bản thân trên thị trường, ví dụ chiến lược tối thiểu hóa chi phí hay chiến lược khác biệt hóa sản phẩm. Phân tích chiến lược công ty cần làm rõ doanh nghiệp theo đuổi chiến lược hoạt động đơn ngành hay đa ngành, những hệ quả của đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh đối với doanh nghiệp, … 10 Mức độ cạnh tranh hiện tại và tiềm năng Cạnh tranh của các Đe dọa của các Đe dọa từ các đối thủ mới doanh nghiệp hiện tại sản phẩm thay thế Tăng trưởng ngành Tính kinh tế nhờ quy mô Mức giá và chức Mức độ tập trung Lợi thế người đi trước năng tương đối của Sự khác biệt Khả năng tiếp cận hệ thống sản phẩm Chi phí chuyển đổi phân phối Sự sẵn sàng thay Tính kinh tế / khả năng học Các mối quan hệ đổi của người mua hỏi nhờ quy mô Rào cản pháp lý Chi phí cố định / biến đổi Năng lực dư thừa Các rào cản rời bỏ ngành Khả năng sinh lợi của ngành nghề Sức mạnh đàm phán trên thị trường đầu vào và đầu ra Sức mạnh đàm phán của người mua Sức mạnh đàm phán của nhà cung cấp Chi phí chuyển đổi Chi phí chuyển đổi Sự khác biệt Sự khác biệt Tầm quan trọng của sản phẩm so với giá Tầm quan trọng của sản phẩm so với và chất lượng giá và chất lượng Số lượng người mua Số lượng nhà cung cấp Số lượng mua của mỗi khách hàng Số lượng bán của mỗi nhà cung cấp Sơ đồ 1. Cấu trúc ngành kinh doanh và khả năng sinh lợi Nguồn: Palepu và cộng sự (2000) Dựa vào việc xem xét biến động doanh thu trong quá khứ cùng với phân tích ngành nghề và chiến lược kinh doanh nêu trên, nhà nghiên cứu có thể đưa ra một mức dự báo doanh thu trong tương lai của doanh nghiệp. Mức dự báo doanh thu này là cơ sở để nhà nghiên cứu đưa ra dự báo về những chỉ tiêu tài chính quan trọng có liên quan trong bước tiếp theo của dự báo tài chính.