CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1/ Khái niệm và đặc điểm của sản xuất nông nghiệp 1.1) Khái niệm Nông nghiệp là quá trình sản xuất lương thực, thực phẩm, thức ăn gia súc, tơ, sợi và sản phẩm mong muốn khác bởi trồng trọt những cây trồng chính và chăn nuôi gia súc, gia cầm… (Đinh Phi Hổ, 2008). Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế mỗi nước, đặc biệt là trong các thế kỷ trước đây khi công nghiệp chưa phát triển và nông nghiệp chiếm tỉ trọng cao trong nền kinh tế. Hoạt động nông nghiệp không những gắn liền với các yếu tố kinh tế, xã hội, mà còn gắn với các yếu tố tự nhiên. Nông nghiệp là tập hợp các phân ngành như trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông sản và công nghệ sau thu hoạch… Trong nông nghiệp có hai loại chính: thứ nhất, đó là nông nghiệp thuần nông tức là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có đầu vào hạn chế, không có sự cơ giới hóa trong sản xuất, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính gia đình của mỗi người nông dân; thứ hai, nông nghiệp chuyên sâu là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp được chuyên môn hóa trong tất cả các khâu sản xuất nông nghiệp, gồm cả việc sử dụng máy móc trong trồng trọt, chăn nuôi, hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm nông nghiệp.
Sản phẩm đầu ra chủ yếu dùng vào mục đích thương mại, làm hàng hóa bán ra trên thị trường hay xuất khẩu. Ngày nay, nông nghiệp hiện đại vượt ra khỏi sản xuất nông nghiệp truyền thống, nó không những tạo ra các sản phẩm lương thực, thực phẩm phục vụ cho con người mà còn tạo ra các loại khác như: sợi dệt, chất đốt, cây cảnh, sinh vật cảnh, chất hóa học, lai tạo giống.2) Đặc điểm Trong nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất đặc biệt. Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là những cây trồng và vật nuôi, chúng là những sinh vật. Trong sản xuất nông nghiệp, sự hoạt động của lao động và tư liệu sản xuất có tính thời vụ.
Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên một địa bàn rộng lớn và mang tính khu vực.2/ Các lý thuyết liên quan 1.1) Lý thuyết năng suất theo qui mô Theo lý thuyết năng suất theo qui mô (Robert S.Pindyck và Daniel L.Rubinfeld, 1999, trích từ Võ Thị Thanh Hương, 2007), việc đo lường sản lượng gia tăng tương ứng với sự gia tăng của tất cả các yếu tố đầu vào là vấn đề cốt lõi để tìm ra bản chất của quá trình sản xuất trong dài hạn. Năng suất tăng dần theo qui mô khi sản lượng tăng hơn hai lần trong khi các yếu tố đầu vào tăng gấp đôi (Lê Bảo Lâm và cộng sự, 1999). Đối với các xí nghiệp có chi phí trung bình dài hạn là cố định cho dù sản lượng tăng, khi đó năng suất không đổi theo qui mô (David Begg và cộng sự, 1995). Hay nói cách khác, khi tăng gấp đôi số lượng yếu tố sản xuất được sử dụng thì sản lượng cũng tăng gấp đôi tương ứng, năng suất không đổi theo qui mô (Lê Bảo Lâm và cộng sự, 1999).
Đối với các xí nghiệp có chi phí trung bình dài hạn tăng theo đà sản lượng tăng (David Begg và cộng sự, 1995), hay tỉ lệ tăng của sản lượng nhỏ hơn tỉ lệ tăng của các yếu tố sản xuất, khi đó năng suất giảm theo qui mô.2) Lý thuyết về tăng trưởng và phát triển nông nghiệp 1.Mô hình Ricardo Ricardo cho rằng giới hạn của đất làm cho lợi nhuận của người sản xuất có xu hướng giảm và giới hạn của đất làm cho năng suất lao động nông nghiệp thấp (David Ricardo, 1823, trích từ Đinh Phi Hổ, 2006). Mô hình cho thấy nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế là tài nguyên đất nông nghiệp; lợi nhuận của người sản xuất là nguồn gốc của tích lũy vốn đầu tư và là yếu tố quyết định mở rộng sản xuất. Mô hình Harrod-Domar Harrod-Domar cho rằng nguồn gốc tăng trưởng kinh tế là do lượng vốn sản xuất tăng thêm có được từ đầu tư và tiết kiệm của quốc gia (Roy Harrod-Evsey Domar, 1940, trích từ Đinh Phi Hổ và cộng sự, 2006). Harrod-Domar đã chỉ ra rằng vốn đầu tư có nguồn gốc từ tiết kiệm.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt là đối với các hộ trồng cà phê tại Đăk Nông, để có vốn mua phân bón, thuốc trừ sâu, thuê lao động chăm sóc cà phê, họ đã dùng vốn tích lũy trong kinh doanh để trang trải, đối với những hộ không có vốn đầu tư, họ sử dụng vốn vay từ định chế chính thức và phi chính thức. Mô hình Kaldor Kaldor cho rằng tăng trưởng kinh tế phụ thuộc phát triển kỹ thuật hoặc trình độ công nghệ (Kaldor, trích từ Đinh Phi Hổ và cộng sự, 2006). Mô hình Kaldor cho thấy trong nông nghiệp, nhất là những nước đang phát triển, cần chú ý phát triển kỹ thuật, đưa phương tiện cơ giới hóa vào canh tác để tăng năng suất, hiệu quả kinh tế. 7 123doc Đối với Việt Nam hiện nay, lợi thế giá rẻ về nhân công đang mất dần do tốc độ tăng tiền lương nhanh hơn tốc độ tăng năng suất (Nguyễn Hoàng Bảo, 2006).
Trong ngành cà phê, nhất là ngành cà phê của tỉnh Đăk Nông, nếu cứ tiếp tục sử dụng lao động phổ thông, không ứng dụng kỹ thuật mới vào canh tác, ít đưa phương tiện cơ giới vào sản xuất và chế biến cà phê thì rất khó để tăng năng suất, hiệu quả kinh tế ngành hàng này. Mô hình Sung Sang Park Park cho rằng tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào quá trình tích lũy vốn sản xuất và quá trình tích lũy trình độ công nghệ. Tích lũy vốn sản xuất được thực hiện một cách liên tục nhờ vào hoạt động đầu tư, trong khi tích lũy công nghệ phụ thuộc vào đầu tư phát triển con người (Sung Sang Park, 1992, trích từ Đinh Phi Hổ và cộng sự, 2006). Sung Sang Park đã kế thừa và phát triển lý thuyết Harrod-Domar.
Lý thuyết của Park đã nêu thêm một điểm mới là tích lũy công nghệ phụ thuộc vào đầu tư phát triển con người, hay nói cách khác là tăng vốn con người1. Qua mô hình cho thấy, trong nông nghệp cần đầu tư thâm canh, đầu tư để nâng cao trình độ, tay nghề của người sản xuất để có thể ứng dụng cơ giới hóa vào canh tác, trồng trọt. Mô hình Tân cổ điển Trường phái Tân cổ điển cho rằng nguồn gốc của tăng trưởng tùy thuộc vào cách thức kết hợp hai yếu tố đầu vào là vốn (K) và lao động (L) (Alfred Marshall, 1890, trích từ Đinh Phi Hổ và cộng sự, 2006). Mô hình cho thấy các nước đang phát triển thường lựa chọn cách thức tăng trưởng theo chiều rộng như lựa chọn công nghệ thâm dụng lao động.
Tuy nhiên, cách thức này lại hạn chế việc nâng cao năng suất lao động. Do đó đối với những nông hộ trồng cây công nghiệp, nếu có điều kiện thì nâng cao hệ số vốn/lao động và năng suất lao động sẽ đạt hiệu quả kinh tế cao hơn.3) Hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế phản ánh mối quan hệ tỷ số giữa đầu ra có ích với đầu vào được sử dụng. Đầu vào có thể tính theo số lao động, vốn hay thời gian lao động hao phí, chi phí thường xuyên. Đầu ra thường dùng giá trị tăng thêm (Lê Dân, 2007).
1 Vốn con người là các kỹ năng được tạo ra bởi giáo dục và đào tạo, vốn con người là yếu tố của quá trình sản xuất kết hợp với vốn hữu hình và các lao động không có kỹ năng để tạo ra sản phẩm (Nguyễn Quốc Huy, 1998 trích trong Mincer, 1989). 8 123doc Hoàng Hùng (2007) cho rằng, hiệu quả kinh tế được xem như là tỷ lệ giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra. Nó được tính toán khi kết thúc một quá trình sản xuất kinh doanh.4) Kiến thức nông nghiệp Kiến thức nông nghiệp có thể xem như một tổng thể các kiến thức về kỹ thuật, kinh tế và cộng đồng mà người nông dân có được để ứng dụng vào hoạt động sản xuất của mình. Theo Đinh Phi Hổ (2007), kiến thức là động lực mạnh mẽ nhất của sản xuất.
Kiến thức nông nghiệp của nông dân phụ thuộc vào mức độ mà họ tiếp cận với các hoạt động cộng đồng ở vùng nông thôn. Với tất cả các nguồn lực đầu vào giống nhau, hai nông dân với sự khác nhau về trình độ kỹ thuật nông nghiệp sẽ có kết quả sản xuất khác nhau. Kiến thức nông nghiệp cũng là một yếu tố đầu vào của sản xuất. Để sản xuất, người nông dân phải có đất; có tiền mua các yếu tố đầu vào như giống, phân bón, thuốc trừ sâu bệnh; và có lao động để tiến hành sản xuất.
Tuy nhiên, nông dân phải có đủ kiến thức mới có thể phối hợp các nguồn lực đó đạt hiệu quả. Các tỉnh Tây Nguyên nói chung hay tỉnh Đăk Nông nói riêng, đa số các hộ nông dân có kiến thức nông nghiệp rất hạn chế, nhất là những hộ đồng bào dân tộc thiểu số, vì vậy qua mô hình lý thuyết của các nhà khoa học trên, chúng ta phải có biện pháp để nâng cao kiến thức nông nghiệp cho hộ nông dân, giúp họ có thể phối hợp sử dụng các nguồn lực đầu vào hiệu quả.5) Năng suất lao động Năng suất lao động nông nghiệp được đo lường bởi GDP khu vực nông nghiệp tính cho một lao động nông nghiệp. Năng suất lao động nông nghiệp Việt Nam còn rất thấp so với các nước trong khu vực. Năng suất lao động nông nghiệp của Việt Nam chỉ khoảng 244 USD, tương đương với 75% của Trung Quốc, 33% so với Indonesia, 25% so với Thái Lan, 18% so với Philippines và 4% so với Malaysia (World Bank, 2000, trích từ Đinh Phi Hổ, 2007).
Với năng suất thấp như vậy thì sản phẩm nông nghiệp Việt Nam rất khó cạnh tranh trên thế giới về giá cả, chất lượng. Nếu không có sự đột phá về năng suất lao động thì nền nông nghiệp không thể chuyển hẳn sang giai đoạn phát triển cao được. Năng suất lao động phụ thuộc chủ yếu vào hai yếu tố: năng suất đất (giá trị sản phẩm tính trên 1 ha) và năng suất đất – lao động (diện tích đất nông nghiệp tính trên 1 lao động).6) Lý thuyết về thay đổi công nghệ trong nông nghiệp 1. Khái niệm Công nghệ là phát triển và ứng dụng của các dụng cụ, máy móc, nguyên liệu và quy trình để giúp đỡ giải quyết những vấn đề của con người.
Nó thể hiện kiến 9 123doc thức của con người trong giải quyết các vấn đề thực tế để tạo ra các dụng cụ, máy móc, nguyên liệu hoặc quy trình tiêu chuẩn (Wikipedia, 2007).