CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH TẾ CHĂN NUÔI LỢN THỊT 1.Lý luận về hiệu quả kinh tế 1. Khái niệm về hiệu quả kinh tế Xuất phát từ các góc độ xem xét, các nhà kinh tế đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế. Theo Kar Marx, hiệu quả là việc “tiết kiệm và phân phối một cách hợp lý thời gian lao động sống và lao động vật hóa giữa các ngành” và hiệu quả cũng là quy luật “tiết kiệm và tăng năng suất lao động”.
Karl Marx cũng cho rằng “nâng cao năng suất lao động vượt quá nhu cầu cá nhân của người lao động là cơ sở tiết kiệm của hết thảy mọi xã hội”.[15] Theo David Begg (1992), “Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hóa này mà không cắt giảm một loại hàng hóa khác” và Ông còn khẳng định “Hiệu quả nghĩa là không lãng phí”. Các quan điểm này đúng trong nền kinh tế thị trường ở các nước phát triển nhưng khó xác định vì chưa đề cập đến chi phí để tạo ra sản phẩm, nhất là ở các nước đang phát triển hay chậm phát triển. Theo Phạm Ngọc Kiểm (2009) “Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế, biểu hiện sự phát triển kinh tế theo chiều sâu. Nó phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực và trình độ tiết kiệm chi phí các nguồn lực đó trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện các mục tiêu kinh doanh”.
Quan điểm này ưu việt hơn trong đánh giá hiệu quả đầu tư theo chiều sâu, hoặc hiệu quả của việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật. Hiện nay, theo quan điểm mới, hiệu quả kinh tế - Allocative efficiency AE) gồm hai bộ phận là hiệu quả kỹ thuật - Technical efficiency (TE) và hiệu quả phân bổ - Economic efficiency (EE). Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Phương Hảođã đưa ra quan điểm về hiệu quả của Colman và Young (1990)[7], hiệu quả kỹ thuật được định nghĩa là khả năng của người sản xuất có 11 Luan van thể sản xuất mức đầu ra tối đa với một tập hợp các đầu vào và công nghệ cho trước. Cần phân biệt hiệu quả kỹ thuật với thay đổi công nghệ.
Sự thay đổi công nghệ làm dịch chuyển hàm sản xuất (dịch chuyển lên trên) hay dịch chuyển đường đồng lượng xuống phía dưới. Hiệu quả kỹ thuật được đo bằng số lượng sản phẩm có thể đạt được trên chi phí đầu vào hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất trong điều kiện cụ thể áp dụng kỹ thuật hay công nghệ. Hiệu quả kỹ thuật thường được phản ánh và biểu hiện trong mối quan hệ giữa các yếu tố trong hàm sản xuất và liên quan đến phương diện sản xuất vật chất. Nó phản ánh mối quan hệ giữa yếu tố đầu vào và yếu tố đầu ra, giữa các yếu tố đầu ra với nhau và giữa các sản phẩm khi nhà sản xuất quyết định sản xuất.
Vì thế, nó được áp dụng phổ biến trong kinh tế vi mô để xem xét tình hình sử dụng các yếu tố đầu vào cụ thể. Chỉ tiêu này cho biết một đơn vị chi phí nguồn lực dùng vào sản xuất đem lại bao nhiêu đơn vị sản phẩm. Hiệu quả phân bổ là thước đo phản ánh mức độ thành công của người sản xuất trong việc lựa chọn tổ hợp các đầu vào tối ưu, nghĩa là tỷ số giữa sản phẩm biên của yếu tố đầu vào nào đó sẽ bằng tỷ số giá cả giữa chúng. Hiệu quả phân bổ là hiệu quả do giá các yếu tố đầu vào và đầu ra được tính để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên một đồng chi phí thêm về đầu vào hay nguồn lực.
Thực chất, hiệu quả phân bổ là hiệu quả kỹ thuật có tính đến yếu tố giá của đầu vào và giá của đầu ra. Việc xác định hiệu quả phân bổ giống như xác định các điều kiện về lý thuyết để tối đa hóa lợi nhuận. Cũng theo Colman và Young (1990), hiệu quả kinh tế được tính bằng tích của hiệu quả kỹ thuật và hiệu quản phân bổ[7]. Hiệu quả kinh tế là một phạm trù của kinh tế học phản ảnh về mặt chất lượng của các hoạt động sản xuất - kinh doanh.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, do chịu sự chi phối bởi quy luật khan hiếm nguồn lực, trong khi đó nhu cầu của xã hội tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng nên trong quá trình sản xuất kinh doanh phải tiết kiệm nguồn lực, chi phí, đồng thời phải thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng về số lượng và chất lượng sản phẩm. Nội dung, bản chất của hiệu quả kinh tế và vận dụng trong nông nghiệp 1. Nội dung của hiệu quả kinh tế Thứ nhất, HQKT là quan hệ so sánh giữa kết quả thu được với toàn bộ các yếu tố chi phí đầu vào của quá trình sản xuất (đất đai, vốn, lao động, khoa học kỹ thuật, quản lý…)[9]. Kết quả và HQKT là hai phạm trù kinh tế khác nhau, nhưng có quan hệ mật thiết với nhau.
Đây là mối liên hệ mật thiết giữa mặt chất và mặt lượng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của một đơn vị. Kết quả thể hiện khối lượng, quy mô của một sản phẩm cụ thể và được thể hiện bằng nhiều chỉ tiêu, tuỳ thuộc vào từng trường hợp. Hiệu quả là đại lượng dùng để đánh giá kết quả đó được tạo ra như thế nào? Mức chi phí cho một đơn vị kết quả có chấp nhận được không? Dựa theo nội dung này giúp chúng ta phân biệt giữa kết quả và hiệu quả của một hiện tượng hay quá trình kinh tế. Thứ hai, hiệu quả gắn liền với kết quả của từng hoạt động cụ thể trong sản xuất kinh doanh, ở những điều kiện lịch sử cụ thể.Trong sản xuất một sản phẩm cụ thể luôn có mối quan hệ giữa sử dụng các yếu tố đầu vào và đầu ra, từ đó chúng ta mới biết được hao phí để sản xuất một đơn vị sản phẩm là bao nhiêu? Mức chi phí như vậy có hiệu quả không? Tuy nhiên, kết quả và hiệu quả phụ thuộc vào từng ngành, từng hoạt động ở điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, thị trường… Thứ ba, HQKT khi tính toán gắn liền với việc lượng hoá các yếu tố đầu vào và các yếu tố đầu ra của từng sản phẩm, dịch vụ trong điều kiện nhất định.
HQKT liên quan trực tiếp đến các yếu tố đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất. Việc lượng hoá hết và cụ thể các yếu tố này để tính toán HQKT thường gặp nhiều khó khăn, đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp. Chẳng hạn: Đối với các yếu tố đầu vào: Trong sản xuất nói chung, sản xuất nông nghiệp nói riêng, tài sản cố định (đất nông nghiệp, vườn cây lâu năm, gia súc cơ bản, nhà xưởng, chuồng trại…) được sử dụng cho nhiều chu kỳ sản xuất, trong nhiều năm nhưng không đồng đều. Mặt khác, giá trị hao mòn khó xác định chính xác, nên việc tính khấu hao tài sản cố định và phân bổ chi phí để tính hiệu quả chỉ có tính chất tương đối.
13 Luan van Một số chi phí chung như chi phí đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng (đường giao thông, hệ thống thuỷ lợi, trạm điện…), chi phí thông tin, khuyến cáo khoa học kỹ thuật… cần thiết phải hạch toán vào chi phí, nhưng trên thực tế khó có tính toán cụ thể và chính xác những chi phí này. Sự biến động của giá cả và mức độ trượt giá trên thị trường gây khó khăn cho việc xác định chính xác chi phí sản xuất. Điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng thuận lợi hoặc khó khăn cho sản xuất, nhưng mức độ tác động là bao nhiêu, đến nay vẫn chưa có phương pháp nào xác định chuẩn xác, nên cũng ảnh hưởng tới tính đúng, tính đủ các yếu tố đầu vào. Đối với các yếu tố đầu ra: Trên thực tế chỉ lượng hoá được các kết quả bằng hiện vật, còn kết quả dưới dạng phi vật chất như tạo công ăn việc làm, khả năng cạnh tranh trên thị trường, bảo vệ môi trường, cãi thiện chế độ dinh dưỡng cho người dân… thường không thể lượng hoá ngay được và chỉ biểu lộ hiệu quả sau một thời gian.
Vì vậy, việc xác định đúng, đủ lượng kết quả này cũng gặp khó khăn. Bản chất của hiệu quả kinh tế HQKT là chỉ tiêu rất cụ thể, thiết thực cho từng doanh nghiệp, nông hộ và cả nền sản xuất xã hội. Thông qua việc nghiên cứu HQKT nhằm tìm ra những phương hướng và biện pháp phù hợp để từ đó tác động nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển, đáp ứng nhu cầu xã hội ngày càng cao. Nghiên cứu HQKT nhằm góp phần thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển và hoà nhập với nền kinh tế trong khu vực và quốc tế.
Từ các quan niệm và nội dung của hiệu quả kinh tế trong nông nghiệp thì bản chất của hiệu quả kinh tế trong nông nghiệp nói chung, trong chăn nuôi lợn và đặc biệt là lợn thịt nói riêng, có thể hiểu ở các góc độ như sau. Hiệu quả kỹ thuật trong chăn nuôi thực chất là quá trình thâm canh tăng năng suất vật nuôi. Có nghĩa là khi ta đầu tư các chi phí đầu vào (giống, thức ăn, kỹ thuật. ) sao cho có hiệu quả nhất để có được khối lượng sản phẩm đạt cao nhất, thu được vốn và lợi nhuận cao nhất với tốc độ cao hơn tốc độ của việc tăng các yếu tố đầu vào.
Tiết kiệm được chi phí sản xuất trên 1 đơn vị đầu ra của sản phẩm mà sản phẩm đầu ra của lợn thịt là giá thành/1kg thịt lợn hơi khi xuất chuồng. Có nghĩa là 14 Luan van giảm được các đầu vào như thức ăn, lao động, giống, chi phí khác. để làm cho giá thành giảm nhanh hơn giá mua của sản phẩm khi thị trường biến động. Nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp là một quá trình phát triển trình độ sản xuất.
Trong một chu kỳ sản xuất kết thúc ta xác định và đánh giá được mức độ hiệu quả kinh tế đem lại ở mức độ nào, để từ đó tìm ra các đặc điểm của hiệu quả kinh tế và sau đó làm tăng hiệu quả kinh tế để từ đó cải thiện các yếu tố sao cho các yếu tố giảm không làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế và làm cho các yếu tố có lợi tăng lên để thúc đẩy hiệu quả kinh tế tăng lên để từ đó không ngừng phát triển với mục đích là nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi và đời sống lao động xã hội.