Chương 1: Tác giả đề cập lý do nghiên cứu, vấn đề và phạm vi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan những nghiên cứu trước đây. Phần này trình bày sơ lược những nghiên cứu trước đây về vai trò của giao dịch dầu thô và cú sốc dầu tác động đến nền kinh tế và tác động của các giao dịch thương mại dầu thô lên thâm hụt tài khoản vãng lai. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.
Phần này trình bày về dữ liệu nghiên cứu, mô hình và phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu. Phần này trình bày kết quả hồi quy đạt được, kiểm định kết quả, phân tích kết quả và giải thích ý nghĩa. Chương 5: Kết luận các kết quả chính tìm thấy ở bài nghiên cứu, trình bày những khuyến nghị, hạn chế và đề xuất các hướng nghiên cứu mới.
5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Khung lý thuyết Trong phần này, tác giả sẽ trình bày lý thuyết về cán cân tài khoản vãng lai, các nhân tố tác động đến cán cân tài khoản vãng lai của một quốc gia nói chung, trong đó nhấn mạnh đến nhân tố xuất nhập khẩu dầu thô. Tiếp theo trình bày phần lý thuyết “thâm hụt kép” liên quan đến việc sử dụng các biến trong mô hình và giải thích kết quả bài nghiên cứu và cuối cùng trình bày lý thuyết “Nghịch lý của tiết kiệm” được tác giả vận dụng trong bài nghiên cứu này.1 Tài khoản vãng lai Theo giáo trình Tài chính quốc tế của GS.TS Trần Ngọc Thơ và các đồng nghiệp (2012), tài khoản vãng lai là thước đo rộng nhất của mậu dịch quốc tế về hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia. Tài khoản vãng lai gồm các thành phần: - Cán cân mậu dịch (Trade balance): giao dịch hàng hóa giữa các quốc gia là hoạt động mậu dịch lâu đời và tiêu biểu nhất cho các giao dịch kinh tế quốc tế.
Vì vậy, mà thành phần chủ yếu của tài khoản vãng lai được đặt một tên gọi riêng là cán cân mậu dịch dùng để đo lường giá trị giao dịch của hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa. - Cán cân dịch vụ: đo lường giá trị xuất khẩu và nhập khẩu dịch vụ giữa các nước. Các giao dịch về dịch vụ quốc tế phổ biến nhất thường là dịch vụ ngân hàng, dịch vụ du lịch, hàng không và dịch vụ xây dựng của các công ty nội địa thực hiện ở nước ngoài. Ở các quốc gia phát triển thì khoản mục này đã phát triển rất nhanh chóng trong suốt những thập niên vừa qua.
- Thu nhập vãng lai chủ yếu thường đi kèm với những khoản đầu tư đã được thực hiện trong những thời kỳ trước đó - Chuyển giao vãng lai (tổng các khoản cho, biếu tặng, viện trợ từ người di cư ra nước ngoài): khi nhận các khoản thanh toán phát sinh liên quan đến việc thay đổi quyền sở hữu của một loại tài sản nào đó. Tài sản thực hoặc tài sản tài chính. Bất kỳ các giao 6 dịch nào có tính một chiều từ một quốc gia này với một quốc gia khác đều được phản ánh lên cán cân chuyển giao vãng lai. - Thông thường hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa chiếm tỷ trọng lớn trong cán cân tài khoản vãng lai của một quốc gia như đã mô tả ở trên cho nên cán cân mậu dịch đóng một vai trò quan trọng trong tài khoản vãng lai.
Tuy nhiên, ở các quốc gia công nghiệp phát triển thì cán cân mậu dịch không quan trọng bằng cán cân dịch vụ.2 Các nhân tố tác động đến cán cân tài khoản vãng lai Tài khoản vãng lai là thước đo rộng nhất của mậu dịch quốc tế về hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia. Theo giáo trình Tài chính quốc tế của GS.TS Trần Ngọc Thơ và các đồng nghiệp (2012) và bài nghiên cứu của Mann (2002) thì tài khoản vãng lai là sự tương tác cân bằng tổng thể giữa nhiều yếu tố, trong đó những nhân tố được tác giả chọn để đưa vào bài nghiên cứu này như: thu nhập quốc dân, tiết kiệm (tỷ lệ dân số phụ thuộc), ngân sách chính phủ, độ mở cửa thương mại: - Ảnh hưởng của thu nhập quốc dân theo lý thuyết giáo trình Tài chính quốc tế của GS.TS Trần Ngọc Thơ và các đồng nghiệp (2012): Nếu mức thu nhập của một quốc gia (thu nhập quốc dân) tăng theo một tỷ lệ cao hơn tỷ lệ tăng của các quốc gia khác, tài khoản vãng lai của quốc gia đó sẽ giảm nếu các yếu tố khác bằng nhau. Do mức thu nhập thực tế (đã điều chỉnh do lạm phát) tăng, mức tiêu thụ của hàng hóa cũng tăng. Một tỷ lệ tăng trong tiêu thụ hầu như sẽ phản ánh một mức cầu gia tăng đối với hàng hóa nước ngoài.
- Ảnh hưởng của các nhân tố theo quan điểm Mann (2002): + Quan điểm trong nước dựa trên thu nhập quốc dân và sản lượng: Cũng theo Mann (2002), các quan điểm đầu tiên về thâm hụt tài khoản vãng lai được dựa trên các tài khoản thu nhập quốc dân và sản lượng nội địa và cho thấy mô hình tiết kiệm và đầu tư nội địa được phản ánh trong cán cân thương mại và cán cân tài khoản vãng lai như thế nào. Trong khuôn khổ tài khoản quốc gia, sản xuất nội địa trong một nền 7 kinh tế phải bằng chi tiêu cộng với cán cân thương mại. Trong trường hợp thâm hụt thương mại, chi tiêu của một quốc gia sẽ vượt sản xuất trong nước. Tiết kiệm khu Thâm = hụt = + Thâm hụt ngân vực tư nhân Đầu tư tư nhân + thương mại = + sách chính phủ trong nước Các tài khoản thu nhập quốc dân và tài khoản sản lượng có những điểm tương đồng, khi sản xuất bằng chi tiêu cũng ngụ ý rằng tiền tiết kiệm bằng đầu tư (S = I).
Tiết kiệm có ba thành phần: tiết kiệm tư nhân (Sp) bao gồm tiết kiệm hộ gia đình và lợi nhuận doanh nghiệp; tiết kiệm khu vực công (T - G), và tiết kiệm nước ngoài, hay nghịch đảo của thâm hụt thương mại (M - X). Thay thế và kết hợp các thành phần theo nguồn và sử dụng các quỹ: Sp+ (M - X) = I + (G - T). + Quan điểm dựa trên thương mại quốc tế về hàng hoá và dịch vụ: Quan điểm thứ hai trên tài khoản vãng lai là một quan điểm quốc tế dựa vào các yếu tố làm cơ sở cho các dòng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ. Các quan điểm trước đó cho rằng người nước ngoài phản ứng lại một cách thụ động với những nhu cầu được phản ánh trong các tài khoản quốc gia.
Ví dụ, nếu một khoảng cách giữa tiết kiệm tư nhân thấp và đầu tư tư nhân cao trong nền kinh tế của Mỹ, các quan điểm đầu tiên dường như ngụ ý rằng các nhà đầu tư nước ngoài sẽ chỉ đơn giản là tiêu dùng ít hơn đồng thời tiết kiệm tăng và đầu tư tài chính vào nền kinh tế Mỹ. Các quan điểm thứ hai, tập trung vào các lực lượng thúc đẩy dòng xuất khẩu và nhập khẩu, cung cấp một vai trò rõ ràng về nhu cầu nước ngoài đối với hàng hóa và dịch vụ. Phương pháp thay thế này cho phép chúng ta kiểm tra tốc độ tăng trưởng GDP của thế giới và nội địa và tỷ giá hối đoái có thể ảnh hưởng đến tài khoản vãng lai như thế nào. Nó cũng cho phép chúng ta xem xét tác động về tài khoản thương mại và tài khoản vãng lai của các yếu tố cấu trúc như so sánh lợi thế và toàn cầu hóa (Mann, 2002).
Mỗi quan điểm là một góc nhìn riêng để thông qua đó phân tích cân bằng tổng thể. Mỗi quan điểm liên quan đến một quyết định tập trung vào các biến hoặc các mối quan hệ 8 kinh tế nhất định và giảm dần hoặc thậm chí bỏ qua các biến và các mối quan hệ khác. Mỗi quan điểm có thể hữu ích trong các tình huống hoặc khung thời gian nhất định. Tóm lại, ba quan điểm đưa ra nhận định phù hợp và hỗ trợ lẫn nhau.
- Mối quan hệ giữa giao dịch dầu thô và Thâm hụt tài khoản vãng lai: Thông thường, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa chiếm tỷ trọng lớn trong cán cân tài khoản vãng lai của một quốc gia như đã trình bày ở trên và dầu thô là một trong những hàng hóa cơ bản của rỗ hàng hóa xuất nhập khẩu. Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải Quan, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa cả nước trong quý I/2016 đạt 29,61 tỷ USD, trong đó, tổng trị giá xuất khẩu là 15,12 tỷ USD, tăng 49,7% và tổng trị giá nhập khẩu là 14,49 tỷ USD. Dầu thô là 1 trong số 12 hàng hóa xuất khẩu chính và tính đến hết tháng 3/2016 lượng dầu thô xuất khẩu của cả nước đạt 1,82 triệu tấn (#498 triệu USD), chiếm 3,23% tổng giá trị xuất khẩu. Do đó, giao dịch xuất nhập khẩu dầu thô của một quốc gia sẽ tác động đến cán cân thương mại và góp phần gây ra thâm hụt hoặc thặng dư cán cân tài khoản vãng lai của quốc gia đó.3 Phương pháp tiếp cận liên thời kỳ Phương pháp tiếp cận liên thời kỳ đi sâu hơn vào việc phân tích tác động của nhiều biến số tới thâm hụt tài khoản vãng lai.
Ưu điểm của phương pháp này là cho thấy những thay đổi của cán cân thương mại có thể phản ánh những nhân tố ảnh hưởng đến tình hình tiết kiệm và đầu tư quốc gia. Điều này cho phép mô hình có thể mở rộng ra rất nhiều biến số có thể tác động tiềm ẩn lên tài khoản vãng lai. Có rất nhiều bài nghiên cứu đề xuất phương pháp cận này và đã được tác giả thực hiện công trình nghiên cứu khoa học “Nhân tố tác động đến cán cân tài khoản vãng lai Việt Nam – Góc nhìn từ cách tiếp cận liên thời kỳ và hàm ý chính sách” năm 2013, tổng hợp như: Phương pháp tiếp cận này được phát triển bởi Obstfeld và Rogoff (1994). Thực nghiệm các ứng dụng của mô hình liên thời kỳ đi theo hai hướng chính.
Một mặt, nhiều nghiên cứu cố gắng thiết lập bằng chứng ủng hộ mô hình cơ bản sử dụng các “chiến lược 9 kiểm định” khác nhau (different testing strategies) (Bergin & Sheffrin, 2000; Nason & Rogers, 2006). Mặt khác, một số bài viết đã xem xét các mối quan hệ dài hạn giữa cán cân vãng lai và các nhân tố vĩ mô cơ bản quyết định nó bằng cách áp dụng các kỹ thuật kinh tế lượng chuẩn (Debelle & Faruquee, 1996; Chinn & Prasad, 2003; Gruber & Kamin, 2005; Lucun Yang, 2011).