Chương 1: Giới thiệu đề tài. Trong chương này, tác giả sẽ làm rõ lý do chọn đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, các vấn đề cần nghiên cứu đồng thời giới thiệu tổng quan về phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa khi thực hiện đề tài. Chương 2: Cơ sở lý luận khoa học và các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về độ mở thương mại và độ mở tài chính tác động lên phát triển tài chính ở các quốc gia. Trong chương này, tác giả sẽ tổng hợp cơ sở lý luận khoa học, những nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về các yếu tố tác động đến phát triển tài chính của các quốc gia Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.
Nội dung chính của chương này tác giả sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu, giải thích các biến độc lập và biến phụ thuộc trong mô hình, mô tả các đặc điểm của mô hình thực nghiệm, các giả định đặt ra để kiểm định và nguồn dữ liệu để thực hiện nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Trong chương này, tác giả trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm về độ mở thương mại và độ mở tài chính ảnh hưởng như thế nào đến phát triển tài chính tại 15 quốc gia đang phát triển khu vực Châu Á. Trên cơ sở đó tác giả lại tiếp tục kiểm định mức độ ảnh hưởng ra sao, tác động như thế nào; đồng thời thảo luận các kết quả thực nghiệm nhận được. 123doc 7 Chương 5: Kết luận.
Ở chương này, tác giả tổng kết lại các vấn đề nghiên cứu, kết luận lại kết quả thực nghiệm từ mô hình nghiên cứu, nêu lên những hạn chế của đề tài và hướng mở rộng đề tài. 123doc 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN KHOA HỌC VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TRÊN THẾ GIỚI VỀ ĐỘ MỞ THƯƠNG MẠI VÀ ĐỘ MỞ TÀI CHÍNH TÁC ĐỘNG LÊN PHÁT TRIỀN TÀI CHÍNH Ở CÁC QUỐC GIA 2. Cơ sở lý luận khoa học 2.1 Lý thuyết về phát triển tài chính 2.1 Định nghĩa phát triển tài chính: Phát triển tài chính là một hiện tượng phản ánh việc cung cấp một cấu trúc thượng tầng tài chính giúp nâng cao cả hoạt động sản xuất và vận hành nền kinh tế một cách trôi chảy. Phát triển tài chính cung cấp nguồn vốn cần thiết, định giá giá trị kinh tế của các nguồn lực đang được giao dịch và hỗ trợ tiến trình thực hiện chính sách công.
Việc cung ứng vốn dưới hình thức tín dụng, kiểm soát lãi suất thị trường,… là sự phản ánh của phát triển tài chính trong một quốc gia nhằm mục đích để đạt được tăng trưởng kinh tế.2 Các thước đo phát triển tài chính Một số cách đo lường phát triển tài chính đã được đề xuất và được sử dụng trong các nghiên cứu hiện có như: tỷ lệ nợ thanh khoản của hệ thống tài chính so với GDP (Levine và cộng sự 2000), tỷ lệ tiền gửi so với GDP (Rajan và Zingales, 2003), tỷ lệ tín dụng khu vực tư nhân so với GDP (Levine và cộng sự 2000) và tỷ lệ vốn hóa thị trường chứng khoán so với GDP (Rajan và Zingales 2003,…Baltagi và cộng sự 2009). Theo định nghĩa, các biện pháp này có thể được phân loại thành các phép đo kích thước (ví dụ: tổng nợ phải trả) và hiệu quả (ví dụ: tín dụng tư nhân) của phát triển tài chính. 123doc 9 Phát triển tài chính được thể hiện qua sự phát triển của hệ thống tài chính. Sự phát triển các thể chế tài chính như ngân hàng, thị trường trái phiếu, thị trường cổ phiếu, công ty bảo hiểm và quỹ hưu trí là cần thiết để hỗ trợ đầu tư vốn cố định, tăng khả năng doanh nghiệp tiếp cận vốn lưu động chi tiêu lương và đầu vào sản xuất, tạo cơ chế dàn trải rủi ro và đảm bảo rằng nền kinh tế có đủ thanh khoản hoàn thành những giao dịch cần thiết.
Những thể chế này tập hợp vốn từ người tiết kiệm và chuyển sang cho bên vay, qui trình này gọi là trung gian (tài chính). Phát triển tài chính theo chiều sâu có nghĩa là tích lũy các tài sản tài chính nhanh hơn tích lũy các tài sản phi tài chính (Kitchen, 1995). Một hệ thống tài chính phát triển đầy đủ thường bao gồm nhiều loại tổ chức, công cụ và thị trường tài chính khác nhau như chúng ta thường thấy tại các nước công nghiệp phát triển ở phương Tây. Tất nhiên, đây không phải là một hệ thống mang tính chất tĩnh, mà ngược lại, là hệ thống thay đổi liên tục với sự ra đời của các loại tổ chức và công cụ tài chính mới.
Phát triển tài chính thể hiện qua các chỉ tiêu như sự gia tăng khối lượng tài sản tài chính, lưu lượng di chuyển vốn, sự phát triển của các tổ chức tài chính, sự vững chắc của cơ sở hạ tầng tài chính, và tín dụng cho khu vực tư nhân. Ngoài ra còn có rất nhiều thước đo khác để đo lường mức độ phát triển tài chính như: - Tỷ lệ của tín dụng cho khu vực tư nhân so với tổng tín dụng. - Độ sâu tài chính [M2(M3)/GDP]: Cho biết quy mô của khu vực trung gian tài chính so với nền kinh tế. - Số lượng vốn hóa của thị trường tài chính.
- Vai trò tương đối của các ngân hàng thương mại so với ngân hàng trung ương. - Chỉ số tự do hóa khu vực tài chính, ngân hàng (Freedom in Banking and Finance index) … 123doc 10 Trên thực tế các nhà nghiên cứu đã sử dụng các thước đo trên một cách linh hoạt phù hợp với điều kiện nghiên cứu của mình. Trong nghiên cứu của Goldsmith (1969) đã sử dụng thước đo mức độ phát triển tài chính là tỷ lệ tài sản của trung gian tài chính so với GDP, ngụ ý rằng sự phát triển của hệ thống tài chính thì tỷ lệ thuận với sự phân bổ và chất lượng của các dịch vụ tài chính. Phát triển từ nghiên cứu của Goldsmith (1969) thì hai nhà kinh tế là King và Levine (1993) đã đưa ra bốn thước đo phát triển tài chính bao gồm: LLY: Tỷ lệ giữa nợ thanh khoản với GDP.
Nợ thanh khoản là thước đo khái quát cung tiền (M3) bao gồm tiền mặt, tài khoản ngân hàng và tài khoản ở các tổ chức tài chính phi ngân hàng. Khi số liệu M3 không có sẵn thì tác giả sử dụng số liệu M2 hẹp hơn trong đó không tính đến tài khoản tiền gửi ngoại tệ có kỳ hạn, cổ phần trong các quỹ đầu tư và thương phiếu (nợ doanh nghiệp ngắn hạn), mục đích để đo lường độ sâu tài chính. BANK: Tỷ số tiền gửi ngân hàng cho khoản tín dụng nội địa so với tiền gửi ngân hàng cộng tín dụng nội địa của ngân hàng trung ương. Mục đích để đánh giá tầm quan trọng vai trò của các tổ chức tài chính.
PRIVATE: Tỷ lệ các khoản tín dụng cho khu vực tư nhân phi tài chính so với tổng mức tín dụng nội địa, đo lường phạm vi tín dụng được chuyển đến khu vực tư nhân. PRIVY: Tỷ lệ các khoản cho vay đối với khu vực tư nhân phi tài chính so với GDP, đo lường mức độ của các dịch vụ tài chính. Ngoài ra tác giả Jinzhang và cộng sự (2012) cũng dựa trên các thước đo cơ bản để đưa ra các thước đo mức độ phát triển tài chính ở Trung Quốc như sau: (1) Credit là tỷ lệ tổng dư nợ cho vay trong hệ thống tài chính (các tổ chức ngân hàng và tổ chức tài chính phi ngân hàng) so với GDP, có thể đo độ sâu tổng thể của trung gian tài chính. (2) Deposit là tỷ lệ tổng tiền gửi trong hệ thống tài chính so với GDP, có thể đo độ lớn tổng thể của các trung gian tài chính 123doc 11 (3) Savings là tỷ lệ tiết kiệm hộ gia đình gửi vào hệ thống tài chính so với GDP, xem như là một công cụ quan trọng của phát triển tài chính Trung Quốc trong việc huy động tiết kiệm hộ gia đình.
(4) Loan over appro là tỷ lệ đầu tư tài sản cố định được tài trợ bởi các khoản vay trong nước liên quan đến tài trợ bởi ngân sách nhà nước. Đầu tư tài sản cố định từ các nguồn khác nhau bao gồm cả các khoản vay trong nước, chiếm dụng ngân sách nhà nước, đầu tư nước ngoài và tự gây quỹ. Trong số các nguồn, các khoản vay được coi là hiệu quả hơn so với tài trợ ngân sách nhà nước về phân bổ vốn. (5) Corporate là tỷ lệ tiền gửi doanh nghiệp / Tổng số dư tiền gửi của khách hàng trong hệ thống tài chính.
Đo lường phát triển tài chính của Trung Quốc thông qua việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng doanh nghiệp. Tóm lại các thước đo mức độ phát triển tài chính rất đa dạng, tùy thuộc vào điều kiện của mỗi quốc gia chúng ta có thể lựa chọn các thước đo khác nhau.2 Lý thuyết về độ mở thương mại 2.1 Định nghĩa về độ mở thương mại Để tính toán mức độ mở cửa thương mại, bài nghiên cứu sử dụng độ mở thương mại (trade openness) tính bằng tỷ lệ xuất nhập khẩu chia cho GDP để tính toán vai trò và tầm ảnh hưởng của thương mại tới tổng sản phẩm quốc nội, bên cạnh đó còn xác định độ mở nhanh hay chậm. Chính vì lẽ đó, trong nghiên cứu của mình tác giả đưa ra khái niệm về độ mở thương mại theo quan điểm có nội hàm hẹp hơn như sau: Độ mở thương mại có nghĩa là mức độ mà tại đó các quốc gia hay các nền kinh tế cho phép kinh doanh hoặc thương mại với các quốc gia hay nền kinh tế khác.2 Thước đo độ mở thương mại Có nhiều chỉ tiêu đo lường sự phát triển thương mại quốc tế của một quốc gia. Tuy nhiên, chỉ tiêu quan trọng và thường được sử dụng nhất là độ mở thương mại của nền 123doc 12 kinh tế (Trade Openness).
Chỉ tiêu độ mở thương mại được tính bằng cách lấy giá trị tổng kim ngạch xuất nhập khẩu (Export and Import) của một thời kỳ chia cho giá trị của tổng sản phẩm trong nước cũng trong thời kỳ đó: Openness = (Export + Import)/GDP Nếu căn cứ vào chỉ tiêu định lượng thì một nền kinh tế có tỷ trọng xuất khẩu so với GDP dưới 5% là độ mở rất thấp. Từ 5% đến 10% là thấp, từ 11% đến 15% là quốc gia có độ mở trung bình, từ 16% đến 20% là các quốc gia có độ mở khá cao. Từ trên 20% là nhóm các quốc gia có độ mở cao.3 Lý thuyết về độ mở tài chính 2.1 Định nghĩa về độ mở tài chính Độ mở tài chính được thể hiện qua sự tự do hóa khu vực tài chính.