Tổng quan luận án

Hoạt động xuất khẩu được xem là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao năng lực của cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển. Thông qua xuất khẩu, doanh nghiệp có thể tiếp thu tiến bộ kỹ thuật, củng cố tổ chức sản xuất, nâng cao chất lượng và năng suất. Tuy nhiên, thực tiễn quốc tế cho thấy không phải quốc gia nào áp dụng chiến lược tăng trưởng hướng về xuất khẩu cũng đạt được kết quả như kỳ vọng. Tại Việt Nam, trong giai đoạn thực hiện Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2011–2020, định hướng đến năm 2030, kim ngạch xuất khẩu đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 18,1%/năm giai đoạn 2000–2017. Mặc dù vậy, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lại chiếm tới hơn 70% tổng giá trị xuất khẩu và liên tục xuất siêu, trong khi khu vực kinh tế trong nước tăng trưởng chậm, liên tục nhập siêu (năm 2015 giảm 8,5% và năm 2017 giảm 2,8%). Hiệu ứng lan tỏa công nghệ từ khu vực xuất khẩu sang khu vực nội địa còn mờ nhạt, công nghiệp hỗ trợ phát triển chậm, tỷ trọng nguyên phụ liệu nhập khẩu còn cao. Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài luận án được xác định là: "Tác động của xuất khẩu lên năng suất của các doanh nghiệp ở Việt Nam".

Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra bao gồm: các công trình trước đây tại Việt Nam chưa bóc tách cụ thể các kênh lan tỏa từ doanh nghiệp xuất khẩu nói chung và doanh nghiệp FDI xuất khẩu nói riêng tới năng suất của các doanh nghiệp nội địa không tham gia xuất khẩu; phần lớn các nghiên cứu chỉ dừng lại ở thước đo năng suất lao động đơn lẻ mà chưa tích hợp phân tích năng suất nhân tố tổng hợp (TFP); đồng thời chưa có sự so sánh, đối chiếu giữa các kỹ thuật ước lượng TFP để khắc phục hiện tượng nội sinh.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định như sau:

  • Mục tiêu chung: Lượng hóa tác động của xuất khẩu tới năng suất của các doanh nghiệp. Đề xuất các giải pháp về chính sách xuất khẩu nhằm tạo thuận lợi, nâng cao năng suất cho hoạt động của các doanh nghiệp.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Mục tiêu 1: Phân tích thực trạng về xuất khẩu và năng suất ở Việt Nam.
    2. Mục tiêu 2: Lượng hóa, đánh giá được năng suất nhân tố tổng hợp của các doanh nghiệp nói chung và theo loại hình doanh nghiệp, theo vùng miền kinh tế, quy mô doanh nghiệp, ngành kinh tế nói riêng.
    3. Mục tiêu 3: Lượng hóa tác động của xuất khẩu tới năng suất nhân tố tổng hợp và năng suất lao động của các doanh nghiệp.
    4. Mục tiêu 4: Lượng hóa tác động lan tỏa của doanh nghiệp tham gia xuất khẩu tới năng suất nhân tố tổng hợp và năng suất lao động của các doanh nghiệp trong nước.
    5. Mục tiêu 5: Đánh giá sự lan tỏa xuất khẩu của các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài tới năng suất các doanh nghiệp trong nước.
    6. Mục tiêu 6: Đề xuất được các giải pháp về chính sách xuất khẩu nhằm tạo thuận lợi, nâng cao năng suất cho hoạt động của các doanh nghiệp.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu của luận án bao gồm:

  1. Sự khác nhau giữa năng suất nhân tố tổng hợp theo từng loại hình doanh nghiệp, theo từng vùng kinh tế trong nước, quy mô, nhóm ngành kinh tế của các doanh nghiệp ở Việt Nam như thế nào?
  2. Sự khác nhau giữa năng suất nhân tố tổng hợp của doanh nghiệp xuất khẩu và doanh nghiệp không xuất khẩu thế nào?
  3. Sự khác nhau về ảnh hưởng của xuất khẩu tới năng suất nhân tố tổng hợp, năng suất lao động theo từng loại hình doanh nghiệp, theo từng vùng kinh tế trong nước, quy mô, nhóm ngành kinh tế của các doanh nghiệp ở Việt Nam ra sao?
  4. Tác động của doanh nghiệp tham gia xuất khẩu tới năng suất nhân tố tổng hợp và năng suất lao động của doanh nghiệp trong nước qua các kênh lan tỏa như thế nào?
  5. Sự lan tỏa xuất khẩu của các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài tới năng suất các doanh nghiệp trong nước như thế nào?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tác động của xuất khẩu tới năng suất nhân tố tổng hợp và năng suất lao động của các doanh nghiệp ở Việt Nam.
  • Phạm vi nội dung: Đo lường tác động của xuất khẩu tới TFP và năng suất lao động; tính toán mức độ chênh lệch TFP giữa doanh nghiệp xuất khẩu và không xuất khẩu, phân loại theo hình thức sở hữu, vùng kinh tế, quy mô và ngành nghề; tính toán và ước lượng tác động của các kênh lan tỏa (kênh ngang, kênh dọc gồm liên kết ngược và liên kết xuôi) từ doanh nghiệp xuất khẩu và doanh nghiệp FDI xuất khẩu tới doanh nghiệp nội địa.
  • Phạm vi không gian: Thực hiện trên phạm vi cả nước theo các ngành kinh tế và các loại hình doanh nghiệp khác nhau.
  • Phạm vi thời gian:
    • Đánh giá thực trạng xuất khẩu và thực trạng năng suất (TFP, năng suất lao động) của các doanh nghiệp: Giai đoạn 2000–2017.
    • Đo lường tác động thực nghiệm kinh tế lượng: Giai đoạn 2010–2016. Tác giả lựa chọn giai đoạn này do từ sau năm 2009 kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam phục hồi và tăng trưởng ổn định, đồng thời nhiều chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp bắt đầu có hiệu lực; bên cạnh đó, giá trị xuất khẩu cấp doanh nghiệp chỉ được Tổng cục Thống kê thu thập đầy đủ từ năm 2010 và bộ dữ liệu điều tra doanh nghiệp tại thời điểm nghiên cứu mới cập nhật đến năm 2016.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan các công trình nghiên cứu thực nghiệm quốc tế và trong nước về mối quan hệ giữa xuất khẩu và năng suất cho thấy hai luồng quan điểm trái chiều:

Nhóm nghiên cứu ủng hộ tác động tích cực của xuất khẩu dựa trên cơ chế học hỏi từ xuất khẩu (learning by exporting):

  • Tại các quốc gia phát triển: Bernard và Wagner (1997) tại Đức; Bernard và Jensen (1999, 2004), Girma và cộng sự (2004) tại Mỹ; Baldwin và Gu (2003) tại Canada; Greenaway và Kneller (2004) tại Anh; Bellone và cộng sự (2008) tại Pháp; Castellani (2007) tại Ý; Crespi và cộng sự (2008) tại Anh; Albornoz và cộng sự (2007) tại Argentina. Các công trình này chỉ ra rằng doanh nghiệp tham gia xuất khẩu đạt năng suất cao hơn doanh nghiệp chỉ phục vụ thị trường nội địa nhờ việc tiếp thu kiến thức kỹ thuật và mở rộng quy mô.
  • Tại các quốc gia đang phát triển: Clerides và cộng sự (1998) tại Morocco; Kraay (1999), Park và cộng sự (2010) tại Trung Quốc; Blalock và Gertler (2004) tại Indonesia (chỉ ra năng suất tăng từ 3%–6% khi tham gia xuất khẩu mà không cần qua chọn lọc); Van Biesebroeck (2005) khảo sát tại 9 quốc gia châu Phi (ghi nhận năng suất tăng 25%–28%); Fernandes (2005) tại Colombia; Kazem và cộng sự (2006) tại Ai Cập; Rahman và Mustafa (1997) tại 13 quốc gia châu Á; Ekanayake (1999) tại 8 quốc gia đang phát triển châu Á; Aw, Chung và Roberts (1998, 2007) đối với ngành điện tử Đài Loan; Ibrahim (2002) tại 6 nền kinh tế châu Á; Mengistae (2004) tại Ethiopia (năng suất tăng trung bình 17%); Bigsten và Gebreeyesus (2008, 2009) tại Ethiopia (năng suất tăng 2%–5%, trả lương cao hơn 1,6 lần so với doanh nghiệp không xuất khẩu); Sharma và Panagiotidis (2005) tại Ấn Độ.

Nhóm nghiên cứu ghi nhận tác động tiêu cực, mờ nhạt hoặc chỉ ủng hộ cơ chế tự lựa chọn (self-selection):

  • Richards (2001) tại Paraguay ghi nhận tác động của học hỏi từ xuất khẩu không ổn định trong dài hạn do các yếu tố kinh tế và chính trị; Kónya (2004) không tìm thấy tác động rõ ràng; Panayiotis và Christopoulos (2005) nghiên cứu 22 quốc gia kém phát triển giai đoạn 1969–1999, chỉ ra việc thúc đẩy xuất khẩu quá mức có thể dẫn tới phân bổ sai lệch nguồn lực và tác động tiêu cực đến năng suất lao động; Shujaat (2012) tại Pakistan giai đoạn 1975–2010 chỉ ra xuất khẩu làm méo mó thương mại và không giúp thoát khỏi trì trệ; Akif Arvas và Burak Uyar (2014) giai đoạn 2003–2008 cho thấy xuất khẩu tăng năng suất ít hơn so với nhập khẩu; Rodrik (1988, 1991) lập luận việc mở cửa làm giảm thị phần nội địa, khiến doanh nghiệp ngần ngại đầu tư công nghệ; Clerides và cộng sự (1998) không tìm thấy bằng chứng học hỏi tại Colombia và Mexico; Castellani (2002) tại Ý; Arnold và Hussinger (2005) tại Đức kết luận các doanh nghiệp có năng suất cao tự chọn gia nhập thị trường xuất khẩu, trong khi bản thân xuất khẩu không làm tăng năng suất.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu thực nghiệm cũng đưa ra những kết luận chưa đồng nhất:

  • Pham (2015) ghi nhận tác động học hỏi từ xuất khẩu đến năng suất nhưng chưa lượng hóa được các kênh truyền tải cụ thể.
  • Vũ và cộng sự (2016) chỉ xác nhận cơ chế tự lựa chọn mà không tìm thấy cơ chế học hỏi từ xuất khẩu.
  • Phạm và Nguyễn (2018) nghiên cứu các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) giai đoạn 2002–2012, ghi nhận xuất khẩu làm tăng quy mô và vốn nhưng chỉ tiếp cận qua chỉ tiêu năng suất lao động đơn lẻ, chưa đo lường TFP và chưa xem xét tác động lan tỏa từ khối FDI xuất khẩu.
  • Nguyễn và cộng sự (2007) sử dụng mẫu SMEs năm 2005 chỉ ra đổi mới kích thích khả năng xuất khẩu.
  • Nguyễn (2008) kết luận doanh nghiệp FDI hướng về xuất khẩu là nguồn lan tỏa xuất khẩu duy nhất cho doanh nghiệp nội địa.
  • M (2010) mô hình hóa FDI hướng vào thị trường thứ ba tại Việt Nam, ghi nhận ảnh hưởng thuận chiều tới liên kết ngược trong chuỗi sản xuất nhưng chỉ đánh giá trên TFP mà không phân tích năng suất lao động.
  • Đào (2016) sử dụng mô hình Feder (1982) cho 5 nước ASEAN giai đoạn 1990–2014, ghi nhận mức tăng 1% xuất khẩu dẫn đến tăng 0,11% sản lượng các khu vực khác, song đây là phân tích ở cấp độ kinh tế vĩ mô.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết:

  • Về mặt lý thuyết: Luận án xây dựng cơ sở lý thuyết và khung phân tích riêng về tác động lan tỏa của hoạt động xuất khẩu (kênh ngang và kênh dọc), thay vì chỉ dựa thuần túy vào khung lý thuyết lan tỏa vốn FDI chung.
  • Về mặt thực nghiệm: Sử dụng bộ dữ liệu bảng cập nhật ở cấp độ vi mô doanh nghiệp giai đoạn 2010–2016; kết hợp đồng thời hai thước đo năng suất lao động và TFP; so sánh các kỹ thuật bán tham số và GMM để khắc phục nội sinh trong hàm sản xuất; phân tích sâu chênh lệch năng suất theo ngành, vùng, hình thức sở hữu; và lượng hóa cụ thể hiệu ứng lan tỏa ngang, lan tỏa dọc (liên kết ngược, liên kết xuôi) của doanh nghiệp xuất khẩu nói chung và doanh nghiệp FDI xuất khẩu nói riêng đối với các doanh nghiệp nội địa không xuất khẩu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng nền tảng lý thuyết dựa trên cả hai giác độ vi mô và vĩ mô:

  • Khái niệm và phương pháp đo lường năng suất:

    • Năng suất nhân tố tổng hợp (TFP): Theo Coelli và cộng sự (2005), Tinbergen (1942) và Solow (1957), TFP biểu thị phần đầu ra gia tăng không giải thích được bằng sự gia tăng số lượng các đầu vào thông thường (vốn và lao động), phản ánh sự thay đổi công nghệ, kỹ thuật quản lý và chất lượng lao động. Theo tiếp cận vĩ mô, hạch toán tăng trưởng từ hàm Cobb-Douglas: $$GDP = TFP \times F(L, K) \implies G(GDP) = G(TFP) + \alpha G(L) + (1-\alpha) G(K)$$ Theo tiếp cận vi mô ở cấp độ doanh nghiệp (Boisvert, 1982; Murthy, 2002), hàm sản xuất mở rộng bao gồm chi phí trung gian ($M_{it}$): $$Y_{it} = A_{it} K_{it}^{\beta_k} L_{it}^{\beta_l} M_{it}^{\beta_m}$$ Lấy logarit tự nhiên ta có: $$y_{it} = \beta_0 + \beta_k k_{it} + \beta_l l_{it} + \beta_m m_{it} + \omega_{it} + \epsilon_{it}$$ Trong đó $\omega_{it}$ là năng suất không quan sát được và $\epsilon_{it}$ là sai số ngẫu nhiên.
    • Năng suất lao động: Theo chuẩn của OECD và Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia Việt Nam, năng suất lao động xã hội được xác định bằng GDP chia cho tổng số lao động làm việc bình quân; năng suất lao động doanh nghiệp được tính bằng doanh thu (hoặc giá trị tăng thêm) chia cho số lao động bình quân.
  • Các lý thuyết thương mại quốc tế và cơ chế truyền dẫn:

    • Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo (1817) và mô hình tân cổ điển Heckscher-Ohlin (H-O) về chuyên môn hóa sản xuất và phân bổ nguồn lực.
    • Helpman và Krugman (1985), Herzer và cộng sự (2006) về tính kinh tế theo quy mô và tái phân bổ nguồn lực sang khu vực xuất khẩu hiệu quả hơn.
    • Lý thuyết tăng trưởng nội sinh (Romer, Lucas; Grossman và Helpman, 1991; Rivera-Batiz và Romer, 1991) nhấn mạnh hoạt động R&D, chuyển giao công nghệ và ngoại ứng tích cực từ xuất khẩu.
    • Cơ chế tự lựa chọn (self-selection) (Melitz, 2003; Bernard và cộng sự, 2003; Yeaple, 2005; Vernon, 1966, 1979; Roberts và Tybout, 1997) giải thích rằng chỉ các doanh nghiệp có năng suất cao mới vượt qua được chi phí chìm khi thâm nhập thị trường quốc tế.
    • Cơ chế học hỏi thông qua xuất khẩu (learning by exporting) (Wagner, 2007; Van Biesebroeck, 2005; De Loecker, 2007; Pack và Saggi, 2001) lập luận doanh nghiệp tiếp thu công nghệ, kỹ năng quản lý từ người mua quốc tế và áp lực cạnh tranh.
    • Giả thuyết năng lực cốt lõi (Feenstra và Ma, 2008; Nocke và Yeaple, 2008) và lý thuyết năng lực hấp thụ (absorptive capacity) (Cohen và Levinthal, 1989, 1990; Barney, 1991).
    • Kênh lan tỏa theo chiều ngang: Diễn ra trong cùng ngành thông qua quan sát, bắt chước kỹ thuật, luân chuyển lao động đã qua đào tạo (Görg và Greenaway, 2004) và áp lực cạnh tranh (hiệu ứng xâm chiếm thị trường trong ngắn hạn và sàng lọc doanh nghiệp trong dài hạn; Barrios và Strobl, 2002; Blomström và Kokko, 1998).
    • Kênh lan tỏa theo chiều dọc: Diễn ra giữa các ngành liên kết trong chuỗi giá trị; gồm liên kết ngược (backward linkages - doanh nghiệp nội địa cung cấp đầu vào cho doanh nghiệp xuất khẩu/FDI; Javorcik, 2004; UNCTAD, 2001; Moran, 2001; Lall, 1980) và liên kết xuôi (forward linkages - doanh nghiệp nội địa mua đầu vào công nghệ cao từ doanh nghiệp xuất khẩu/FDI; Doan, Maré và Iyer, 2015).
  • Phương pháp nghiên cứu thực tế:

    • Phương pháp định tính: Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê mô tả, so sánh và đối chiếu lịch sử để làm rõ bối cảnh thể chế, thực trạng xuất khẩu và chính sách hỗ trợ doanh nghiệp.
    • Phương pháp định lượng: Ước lượng TFP bằng phương pháp bán tham số Olley và Pakes (1996 - OP, dùng đầu tư làm biến đại diện cho các cú sốc năng suất không quan sát được) và phương pháp Levinsohn và Petrin (2003 - LP, dùng đầu vào trung gian làm biến đại diện nhằm khắc phục nhược điểm giá trị đầu tư bằng 0); đối chiếu với kỹ thuật ước lượng GMM (Hansen, 1982; Blundell và Bond, 1998, 2000; Van Biesebroeck, 2007). Luận án lựa chọn kết quả ước tính TFP theo phương pháp Levinsohn và Petrin (LP) để phục vụ các hồi quy tiếp theo.
    • Mô hình kinh tế lượng phân tích tác động: Sử dụng dữ liệu bảng với các phương pháp hồi quy OLS gộp (Pooled OLS), mô hình ảnh hưởng cố định (FE), mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên (RE) và phương pháp mô men tổng quát hệ thống (System GMM) để xử lý triệt để hiện tượng nội sinh; thực hiện các kiểm định lựa chọn mô hình phù hợp.
  • Nguồn tư liệu và dữ liệu:

    • Dữ liệu điều tra doanh nghiệp hàng năm của Tổng cục Thống kê (GSO) giai đoạn 2010–2016 đối với mẫu hồi quy vi mô, và giai đoạn 2000–2017 đối với số liệu thống kê vĩ mô.
    • Số liệu kim ngạch xuất nhập khẩu, cán cân thương mại từ Tổng cục Hải quan và Bộ Công Thương.
    • Dữ liệu quốc tế từ Total Economy Database của The Conference Board (so sánh năng suất lao động theo sức mua tương đương giá cố định 2011), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF, 2016) và Báo cáo của Viện Năng suất Việt Nam (2017).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu thực nghiệm về tác động của xuất khẩu đến năng suất các doanh nghiệp

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) và năng suất lao động từ cấp vĩ mô đến vi mô. Tác giả luận giải cơ sở tăng TFP dựa trên bốn nhân tố chính theo Tổ chức Năng suất châu Á (2004) và Romer (1990): nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thay đổi cơ cấu vốn đầu tư, thay đổi cơ cấu kinh tế và áp dụng tiến bộ kỹ thuật công nghệ. Tiếp đó, chương phân tích các lý thuyết thương mại quốc tế (Ricardo, Heckscher-Ohlin, Helpman và Krugman, lý thuyết tăng trưởng nội sinh) làm nền tảng giải thích tác động của xuất khẩu tới năng suất.

Chương làm rõ hai trường phái: cơ chế tự lựa chọn (self-selection) và cơ chế học hỏi từ xuất khẩu (learning by exporting). Tác giả thiết lập khung phân tích về các kênh lan tỏa từ doanh nghiệp xuất khẩu sang doanh nghiệp nội địa, phân chia thành: lan tỏa theo chiều ngang (kênh bắt chước/mô phỏng, kênh cạnh tranh - hiệu ứng xâm chiếm thị trường, kênh dịch chuyển lao động) và lan tỏa theo chiều dọc (liên kết ngược và liên kết xuôi). Đồng thời, tác giả tổng thuật chi tiết các công trình thực nghiệm quốc tế và trong nước, từ đó chỉ ra khoảng trống nghiên cứu về việc thiếu vắng khung phân tích lan tỏa xuất khẩu toàn diện và nhu cầu so sánh các phương pháp ước lượng TFP tại Việt Nam.

Chương 2: Thực trạng về xuất khẩu và năng suất của các doanh nghiệp ở Việt Nam

Chương 2 tập trung phân tích thực trạng xuất khẩu, cơ cấu mặt hàng, hình thức sở hữu và năng suất giai đoạn 2000–2017 thông qua các chuỗi số liệu thống kê cụ thể:

Xu hướng và cơ cấu xuất khẩu:

  • Kim ngạch xuất khẩu tăng từ 14.483 triệu USD (năm 2000) lên 214.019,9 triệu USD (năm 2017), gấp gần 15 lần, với tốc độ tăng trưởng bình quân 18,1%/năm. Giai đoạn 2000–2005 đạt bình quân 20.883 triệu USD/năm (tăng 19,16%/năm); năm 2007 đạt 48.561 triệu USD; năm 2008 đạt 62.685 triệu USD; năm 2009 giảm xuống 57.096 triệu USD (-8,92%) do khủng hoảng tài chính toàn cầu; năm 2010 phục hồi lên 72.237 triệu USD (+26,52%); năm 2017 đạt 214,02 tỷ USD (+21,2%).
Nhóm hàng xuất khẩu Giá trị TB 2000–2017 (triệu USD/năm) Tỷ trọng TB 2000–2017 (%) Tỷ trọng năm 2007 (%) Tỷ trọng năm 2017 (%)
Nông, lâm, thủy sản 12.778,011 18,82 21,67 (giai đoạn 2000–2006) 12,06
Nhiên liệu và khoáng sản 6.352,944 13,53 22,52 (giai đoạn 2000–2006) 2,05
Công nghiệp chế biến 52.010,494 56,97 34,95 (19.081,8 triệu USD) 81,34 (174.080,3 triệu USD)
Hàng hóa khác - 10,68 - -

Cơ cấu theo loại hình sở hữu và cán cân thương mại: Khu vực FDI chiếm tỷ trọng áp đảo: từ 45,2% tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2001 tăng lên 57,5% năm 2007 và đạt xấp xỉ 72% năm 2017. Giai đoạn 2012–2016, xuất khẩu của FDI tăng trưởng 21,3%/năm (so với mức trung bình cả nước 12,7%). Ngược lại, xuất khẩu khu vực trong nước giảm 8,5% năm 2015 và giảm 2,8% năm 2017. Năm 2012, cán cân thương mại thặng dư lần đầu tiên với mức xuất siêu 4,1 tỷ USD của khối FDI, trong khi khối trong nước nhập siêu 3,35 tỷ USD. Đến năm 2017, khối FDI xuất siêu 24,71 tỷ USD nhưng khối doanh nghiệp trong nước nhập siêu 22,6 tỷ USD (tăng gần 7 lần so với năm 2012).

Thực trạng năng suất lao động: Tốc độ tăng năng suất lao động bình quân của Việt Nam giai đoạn 2000–2005 là 2,55%/năm; giai đoạn 2006–2010 là 3,45%/năm; giai đoạn 2011–2016 là 4,36%/năm; giai đoạn 2011–2017 là 4,72%/năm. Mức tăng này thấp hơn tốc độ tăng trưởng GDP bình quân (6,21%/năm) và thấp hơn tốc độ tăng lương thực tế (12,59%/năm).

Quốc gia Năm 2000 (1.000 USD PPP) So với VN (Lần) Năm 2010 (1.000 USD PPP) So với VN (Lần) Năm 2016 (1.000 USD PPP) So với VN (Lần)
Singapore 105,6 18,9 127,6 15,2 132,8 12,1
Đài Loan 69,5 12,5 92,4 11,0 99,2 9,0
Nhật Bản 66,1 11,8 72,6 8,7 74,2 6,7
Hàn Quốc 49,1 8,8 67,1 8,0 72,7 6,6
Malaysia 43,3 7,8 53,0 6,3 59,1 5,4
Thái Lan 19,6 3,5 25,3 3,0 29,9 2,7
Indonesia 14,5 2,6 20,1 2,4 25,7 2,3
Trung Quốc 12,6 2,3 17,6 2,1 26,8 2,4
Philippines 6,9 1,2 15,3 1,8 19,4 1,8
Việt Nam 5,6 1,0 8,4 1,0 11,0 1,0
Myanmar 2,6 0,5 6,8 0,8 9,7 0,6
Campuchia 3,0 0,5 4,5 0,5 6,2 0,9

Theo báo cáo của IMF năm 2016, năng suất lao động Việt Nam tính theo sức mua tương đương đạt 6.876 USD/người, xếp thứ 125 thế giới, bằng 1/19 quốc gia cao nhất, 1/10 của Mỹ, 1/6 của Nhật Bản và bằng 1/3 mức trung bình thế giới (19.940 USD/người). Về hình thức sở hữu giai đoạn 2005–2017, khu vực FDI có năng suất lao động cao nhất nhưng biến động thiếu ổn định do tập trung vào gia công lắp ráp giá trị gia tăng thấp; khu vực nhà nước tăng chậm; khu vực ngoài nhà nước thấp nhất.

Chương 3: Kết quả phân tích thực nghiệm về tác động của xuất khẩu lên năng suất của các doanh nghiệp Việt Nam

Chương 3 trình bày các giả thiết nghiên cứu và đặc tả các mô hình kinh tế lượng sử dụng dữ liệu bảng giai đoạn 2010–2016 từ Điều tra doanh nghiệp của GSO.

Nội dung chương trình bày:

  • Kết quả ước lượng TFP theo hàm sản xuất Cobb-Douglas bằng các phương pháp OP, LP và GMM; thực hiện so sánh đối chiếu giữa các phương pháp để kiểm tra tính vững và chọn kết quả TFP theo Levinsohn-Petrin (LP) làm biến phụ thuộc cho các bước ước lượng tiếp theo.
  • Đánh giá sự khác biệt về TFP giữa các nhóm doanh nghiệp: so sánh giữa doanh nghiệp xuất khẩu và doanh nghiệp không xuất khẩu; phân tích chênh lệch TFP theo loại hình sở hữu (doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp FDI), quy mô doanh nghiệp (siêu nhỏ, nhỏ, vừa, lớn), ngành nghề kinh tế (công nghiệp chế biến chế tạo, khai khoáng, nông lâm thủy sản) và vùng miền kinh tế.
  • Kết quả ước lượng tác động trực tiếp của hoạt động xuất khẩu tới năng suất nhân tố tổng hợp và năng suất lao động của doanh nghiệp thông qua các mô hình hồi quy (Pooled OLS, FE, RE, System GMM), kiểm tra hiệu ứng tương tác theo quy mô và loại hình doanh nghiệp.
  • Lượng hóa các kênh lan tỏa từ các doanh nghiệp xuất khẩu sang năng suất của các doanh nghiệp trong nước: ước lượng hệ số lan tỏa theo chiều ngang trong cùng ngành và hệ số lan tỏa theo chiều dọc (liên kết ngược thông qua việc cung cấp nguyên phụ liệu và liên kết xuôi thông qua việc tiêu thụ sản phẩm đầu vào).
  • Lượng hóa riêng biệt tác động lan tỏa từ các doanh nghiệp FDI xuất khẩu tới TFP và năng suất lao động của các doanh nghiệp nội địa trong chuỗi cung ứng.

Chương 4: Kết luận và kiến nghị

Chương 4 tóm tắt các kết luận rút ra từ các chương trước, đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp và khuyến nghị chính sách:

  • Tóm tắt kết quả phân tích: Tổng hợp các phát hiện về thực trạng phân hóa năng suất, mức độ đóng góp của xuất khẩu tới TFP và năng suất lao động, cùng sự tồn tại hay hạn chế của các kênh lan tỏa ngang và lan tỏa dọc từ khu vực xuất khẩu và khu vực FDI.
  • Gợi ý chính sách và giải pháp: Đề xuất giải pháp chính sách xuất khẩu nhằm nâng cao năng suất doanh nghiệp, điều chỉnh định hướng thu hút FDI gắn với yêu cầu chuyển giao công nghệ và xây dựng chuỗi cung ứng nội địa; chính sách thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ nhằm tăng cường liên kết ngược; chính sách hỗ trợ nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ và đổi mới sáng tạo cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước.
  • Trình bày những đóng góp khoa học mới, các hạn chế còn tồn tại của luận án và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận:

  • Luận án bổ sung và hoàn thiện khung phân tích về tác động lan tỏa của hoạt động xuất khẩu đối với năng suất doanh nghiệp. Luận án mở rộng cơ sở lý thuyết vượt ra ngoài phạm vi lan tỏa FDI truyền thống bằng cách bóc tách đồng thời hai kênh lan tỏa ngang (cạnh tranh, bắt chước, chuyển dịch lao động) và lan tỏa dọc (liên kết xuôi, liên kết ngược) của nhóm doanh nghiệp tham gia xuất khẩu.
  • Kết hợp đồng thời hai chỉ tiêu năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) và năng suất lao động trong cùng một khung đánh giá, giúp phản ánh toàn diện cả khía cạnh tiến bộ công nghệ/hiệu quả kỹ thuật lẫn hiệu suất sử dụng lao động.

Đóng góp về mặt thực tiễn:

  • Cung cấp bằng chứng thực nghiệm dựa trên bộ dữ liệu bảng quy mô lớn ở cấp độ vi mô doanh nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2010–2016, áp dụng các kỹ thuật bán tham số Levinsohn-Petrin (LP), Olley-Pakes (OP) và GMM để kiểm soát hiện tượng nội sinh trong hàm sản xuất.
  • Đánh giá có hệ thống sự khác biệt về TFP và năng suất lao động giữa các nhóm doanh nghiệp theo loại hình sở hữu, quy mô, vùng kinh tế và cơ cấu ngành nghề; chỉ ra thực trạng chênh lệch giữa doanh nghiệp xuất khẩu và không xuất khẩu.
  • Làm rõ thực trạng phụ thuộc xuất khẩu vào khối doanh nghiệp FDI (chiếm hơn 70% kim ngạch) và sự thiếu hụt các mối liên kết công nghiệp hỗ trợ giữa khối FDI xuất khẩu với các doanh nghiệp cung ứng nội địa.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất:

  • Hoàn thiện chính sách thương mại và xuất khẩu theo hướng chuyển dịch từ chiều rộng sang chiều sâu, chú trọng gia tăng giá trị nội địa thay vì thuần túy gia tăng quy mô kim ngạch.
  • Xây dựng chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ có trọng tâm, tạo điều kiện để các doanh nghiệp trong nước trở thành nhà cung ứng đầu vào (tăng cường liên kết ngược) cho các doanh nghiệp FDI xuất khẩu.
  • Nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp trong nước thông qua các chính sách khuyến khích đào tạo lao động, đổi mới quy trình kỹ thuật và ứng dụng công nghệ quản lý.
  • Điều chỉnh chính sách thu hút FDI theo hướng ưu tiên các dự án có cam kết chuyển giao công nghệ, liên kết chuỗi cung ứng và sử dụng tỷ lệ nội địa hóa cao.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài:

  • Về phạm vi thời gian dữ liệu thực nghiệm: Phần đo lường định lượng tác động kinh tế lượng của luận án chỉ giới hạn trong giai đoạn 2010–2016. Nguyên nhân do trước năm 2010, số liệu thống kê về giá trị xuất khẩu cấp doanh nghiệp trong Điều tra doanh nghiệp chưa được thu thập đầy đủ; đồng thời tại thời điểm tác giả hoàn thành nghiên cứu, cơ sở dữ liệu điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê mới phát hành đến năm 2016.
  • Về biến số đo lường: Dữ liệu điều tra doanh nghiệp chưa phản ánh chi tiết các chỉ tiêu về chi phí nghiên cứu và phát triển (R&D) cụ thể ở tất cả các doanh nghiệp, cũng như chưa bóc tách cụ thể cơ cấu thị trường xuất khẩu chi tiết theo từng dòng sản phẩm cấp mã HS ở cấp độ vi mô.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng chuỗi số liệu vi mô sang các năm tiếp theo sau 2016 khi Tổng cục Thống kê cập nhật các kỳ điều tra mới, nhằm kiểm định tính ổn định của các hệ số tác động trong bối cảnh thực thi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.
  • Đi sâu phân tích tác động lan tỏa xuất khẩu theo từng thị trường xuất khẩu trọng điểm cụ thể (như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc) để làm rõ sự khác biệt về hiệu ứng học hỏi công nghệ theo các tiêu chuẩn kỹ thuật của từng thị trường đối tác.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế học, Kinh tế phát triển, Thương mại quốc tế: Giá trị tham khảo nằm ở quy trình xây dựng khung phân tích lan tỏa xuất khẩu, phương pháp lập trình tính toán TFP cấp doanh nghiệp bằng hàm Cobb-Douglas sử dụng các kỹ thuật bán tham số Olley-Pakes, Levinsohn-Petrin và phương pháp GMM để khắc phục hiện tượng nội sinh; cùng việc thiết kế các chỉ số liên kết ngược (backward linkages) và liên kết xuôi (forward linkages).
  • Giảng viên và chuyên gia nghiên cứu kinh tế: Tham khảo phần tổng quan tài liệu có hệ thống về hai trường phái "tự lựa chọn" và "học hỏi từ xuất khẩu", cùng hệ thống bảng số liệu đối chiếu năng suất lao động Việt Nam với các quốc gia châu Á (theo The Conference Board và IMF).
  • Các nhà hoạch định chính sách (Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Viện Năng suất Việt Nam): Cung cấp các luận cứ thực nghiệm về thực trạng nhập siêu kéo dài của khối doanh nghiệp trong nước đối lập với trạng thái xuất siêu của khối FDI; từ đó xây dựng các chương trình hành động phát triển công nghiệp hỗ trợ và điều chỉnh chính sách ưu đãi FDI gắn liền với chuyển giao công nghệ.

Câu hỏi thường gặp

1. Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu và sự chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2000–2017 diễn ra như thế nào? Kim ngạch xuất khẩu tăng từ 14.483 triệu USD (năm 2000) lên 214.019,9 triệu USD (năm 2017), đạt tốc độ tăng bình quân 18,1%/năm. Cơ cấu nhóm hàng có sự dịch chuyển rõ nét: nhóm công nghiệp chế biến tăng từ 34,95% năm 2007 (19.081,8 triệu USD) lên 81,34% năm 2017 (174.080,3 triệu USD); nhóm nông, lâm, thủy sản giảm tỷ trọng từ 21,67% (bình quân 2000–2006) xuống còn 12,06% năm 2017; nhóm nhiên liệu và khoáng sản giảm từ 22,52% (bình quân 2000–2006) xuống mức thấp nhất là 2,05% vào năm 2017.

2. Thực trạng cán cân thương mại và tỷ trọng xuất khẩu giữa khu vực FDI và khu vực trong nước được văn bản chỉ ra ra sao? Khu vực FDI chiếm tỷ trọng xuất khẩu tăng từ 45,2% năm 2001 lên 57,5% năm 2007 và đạt gần 72% năm 2017. Giai đoạn 2012–2016, kim ngạch xuất khẩu khối FDI tăng bình quân 21,3%/năm, trong khi khối trong nước giảm 8,5% năm 2015 và giảm 2,8% năm 2017. Năm 2012, khối FDI xuất siêu khoảng 4,1 tỷ USD, khối trong nước nhập siêu 3,35 tỷ USD. Đến năm 2017, xuất siêu của FDI đạt 24,71 tỷ USD, trong khi khối trong nước nhập siêu tăng lên khoảng 22,6 tỷ USD (tăng gần 7 lần so với năm 2012).

3. Luận án đã so sánh các kỹ thuật nào để ước lượng TFP và kỹ thuật nào được chọn cho các phân tích thực nghiệm? Luận án xem xét phương pháp hồi quy OLS nhưng chỉ ra OLS bị chệch do biến đầu vào bị nội sinh. Để khắc phục, tác giả so sánh ba kỹ thuật: phương pháp bán tham số Olley và Pakes (1996 - OP) dùng biến đầu tư làm đại diện; phương pháp bán tham số Levinsohn và Petrin (2003 - LP) dùng chi phí trung gian làm đại diện; và phương pháp GMM (Hansen, 1982). Sau khi đánh giá, tác giả lựa chọn kết quả ước tính TFP theo phương pháp Levinsohn và Petrin (LP) để tiến hành các phân tích so sánh và hồi quy thực nghiệm.

4. Năng suất lao động của Việt Nam so với các quốc gia châu Á và thế giới được văn bản ghi nhận ở mức độ nào? Theo dữ liệu The Conference Board giai đoạn 2000–2016, khoảng cách năng suất lao động (tính theo GDP PPP 2011/lao động) của Singapore so với Việt Nam giảm từ 18,9 lần xuống 12,1 lần; Đài Loan từ 12,5 lần xuống 9,0 lần; Nhật Bản từ 11,8 lần xuống 6,7 lần; Hàn Quốc từ 8,8 lần xuống 6,6 lần; Malaysia từ 7,8 lần xuống 5,4 lần; Thái Lan từ 3,5 lần xuống 2,7 lần; Trung Quốc năm 2016 gấp 2,4 lần Việt Nam. Theo IMF (2016), năng suất lao động Việt Nam đạt 6.876 USD/người, xếp hạng 125 thế giới, bằng 1/19 nước cao nhất, 1/10 của Mỹ, 1/6 của Nhật Bản và bằng 1/3 mức trung bình thế giới (19.940 USD/người).

5. Hai cơ chế lý thuyết chính giải thích mối quan hệ giữa xuất khẩu và năng suất doanh nghiệp được luận án phân tích là gì? Đó là cơ chế tự lựa chọn (self-selection) và cơ chế học hỏi thông qua xuất khẩu (learning by exporting). Cơ chế tự lựa chọn lập luận rằng chỉ những doanh nghiệp vốn đã có năng suất cao mới có đủ năng lực vượt qua các chi phí chìm gia nhập thị trường để tham gia xuất khẩu. Ngược lại, cơ chế học hỏi qua xuất khẩu cho rằng chính hoạt động xuất khẩu là nguồn gốc làm tăng năng suất doanh nghiệp thông qua việc hấp thụ công nghệ, kiến thức từ bạn hàng quốc tế và áp lực cạnh tranh toàn cầu.

Kết luận

Luận án "Tác động của xuất khẩu lên năng suất của các doanh nghiệp ở Việt Nam" giải quyết một vấn đề kinh tế có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Bằng việc kết hợp hạch toán tăng trưởng, lý thuyết thương mại và các kỹ thuật kinh tế lượng bán tham số (Levinsohn-Petrin) cùng GMM trên bộ dữ liệu doanh nghiệp giai đoạn 2010–2016, luận án đã đo lường toàn diện các tác động của xuất khẩu tới cả năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) và năng suất lao động. Nghiên cứu đồng thời làm rõ sự phân hóa sâu sắc giữa khối FDI và khối nội địa, bóc tách các kênh lan tỏa ngang và lan tỏa dọc từ hoạt động xuất khẩu. Các kết quả và đề xuất chính sách trong luận án cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho việc tái cơ cấu xuất khẩu và thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam.