Chương 1: Tổng quan đề tài Trình bày lí do chọn đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu, đối tượng khảo sát, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài nghiên cứu và kết cấu luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Trình bày các lí thuyết liên quan về văn hóa, VHDN, cam kết của nhân viên với tổ chức. Trình bày các mô hình, kết quả nghiên cứu trước liên quan đề tài nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu mới và các giả thuyết nghiên cứu. Chương 3: Thiết kế nghiên cứu Trình bày các bước xây dựng thang đo, phương pháp chọn mẫu và thu thập dữ liệu trong bài nghiên cứu.
Nghiên cứu được thực hiện bằng hai phương pháp: nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Trình bày việc phân tích và xử lý dữ liệu thu thập được bằng phần mềm SPSS. Dữ liệu được phân tích bằng một số kỹ thuật để kiểm định các giả thuyết một cách chặt chẽ, bền vững, trình bày và thảo luận kết quả nghiên cứu. 6 Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị Trình bày tóm lược quá trình nghiên cứu, đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm nâng cao sự cam kết của nhân viên tại các Ngân hàng thương mại trên Tp.
Đồng thời, tác giả cũng trình bày các hạn chế của đề tài và các hướng nghiên cứu mở rộng tiếp theo. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Trong chương này, luận văn sẽ trình bày các lí thuyết liên quan về văn hóa, VHDN, cam kết của nhân viên với tổ chức, các mô hình, kết quả nghiên cứu trước liên quan đề tài nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu mới và các giả thuyết nghiên cứu. Văn hóa và văn hóa doanh nghiệp 2. Các khái niệm văn hóa UNESCO định nghĩa về văn hóa như sau: "Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tinh thần vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả các phong cách sống, các lối chung sống, các hệ thống giá trị, các truyền thông và đức tin".
Theo Schein (1992) văn hóa là một hình thức của các giả thiết cơ bản - được phát minh, khám phá, phát triển bởi một nhóm khi họ học cách đối phó với các vấn đề liên quan đến việc thích nghi với bên ngoài và hội nhập với bên trong - đã phát huy tác dụng và được coi như có hiệu lực và do đó được truyền đạt cho các thành viên mới noi theo. Con người muốn sinh tồn và vì mục đích sống họ sẽ sáng tạo ra nhiều vấn đề khác nhau như ngôn ngữ, chữ viết, tôn giáo, khoa học, pháp luật…và mỗi phương thức sẽ được mỗi cá nhân hay tổ chức vận dụng và khắc họa bản sắc riêng cho mình gọi chung đó là văn hóa. Vì vậy, văn hóa chính là sự “hiện hữu”, là giá trị đích thực còn lại khi tất cả những thứ khác sẽ bị lãng quên đi. Các khái niệm về VHDN Theo một cách hiểu thông thường và phổ biến hiện nay thì doanh nghiệp chính là một tổ chức có hoạt động kinh doanh.
Do đó, khi nghiên cứu về VHDN cũng giống như nghiên cứu về văn hóa một tổ chức kinh tế. Với cách suy luận như thế này cùng với phạm vi nghiên cứu thì khi đề cập đến văn hóa tổ chức tức là đề cập 8 đến VHDN. Khái niệm về tổ chức bao quát hơn khái niệm về doanh nghiệp và khái niệm về doanh nghiệp chính là một thành phần của khái niệm về tổ chức. Trong bài nghiên cứu này chỉ nghiên cứu tổ chức ở góc độ doanh nghiệp hay nói một cách khác thì tổ chức và doanh nghiệp ở đây được hiểu là một.
Nghĩa là, văn hóa tổ chức và VHDN là một. VHDN có thể được mô tả như một tập hợp chung các tín ngưỡng, thông lệ, hệ thống giá trị, quy chuẩn hành vi ứng xử và cách kinh doanh riêng của từng doanh nghiệp. Những mặt trên sẽ quy định mô hình hoạt động riêng của công ty và cách ứng xử của các thành viên trong tổ chức (Tunstall, 1983 trích bởi Trương Hoàng Lâm và Đỗ Thị Thanh Vinh, 2012). Tác giả Luthans (1992) định nghĩa VHDN bao gồm các chuẩn mực đạo đức, hệ thống giá trị, niềm tin và bầu không khí tại môi trường làm việc của doanh nghiệp.
(Lund, 2003; Pool, 2000),“ VHDN có thể được xem như là một hệ thống các giá trị, các niềm tin và các khuôn mẫu hành vi ứng xử mà hình thành nên các đặc tính cốt lõi của các doanh nghiệp và giúp định hình hành vi ứng xử của nhân viên”. và cộng sự (2011) cho rằng VHDN là một hệ thống các ý nghĩa được chia sẻ, giúp cho các thành viên của doanh nghiệp hiểu được cách thức hành xử như thế nào. Nó có thể được coi như một mô hình bao gồm sự tin tưởng, nghi lễ, tập quán và trí tưởng tượng được phát triển trong một khoảng thời gian nhất định. Các khía cạnh của VHDN ảnh hưởng tới hành vi tổng thể của các cá nhân trong doanh nghiệp.
Trong khi đó theo Tổ chức Lao động quốc tế (International Labour Organization – ILO), VHDN là sự tổng hợp đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, các thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một doanh nghiệp đã biết. Từ kế thừa các nghiên cứu của các học giả và từ hệ thống nghiên cứu về văn hóa và văn hóa trong kinh doanh thì VHDN được Đỗ Thị Phi Hoài, (2009) định nghĩa như sau: “VHDN là một hệ thống các ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, cách nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên trong doanh nghiệp cùng đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của từng 9 thành viên trong hoạt động kinh doanh, tạo nên bản sắc kinh doanh của doanh nghiệp đó”. VHDN như là một loại tài sản vô hình của doanh nghiệp đó, là một trong những công cụ quan trọng nhất trong việc cạnh tranh của doanh nghiệp mà người ta không thể nhìn thấy một cách trọng vẹn bằng mắt thường, không thể miêu tả hình dáng cụ thể mà phải qua một quá trình tiếp xúc, gắn bó đủ để cảm nhận được. Khái niệm VHDN được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau bởi nhiều tác giả nhiều nhà nghiên cứu khác nhau.
Có rất nhiều khái niệm về VHDN của các tác giả khác nhau cho thấy được VHDN rất nhiều cách miêu tả khác nhau khó có thể xác định một các chi tiết rõ ràng được nhưng chúng ta có thể nhìn tổng thể VHDN như một bức tranh mang đậm nét đặc trưng của từng doanh nghiệp và nó có vai trò cũng như chức năng trong công cuộc xây dựng bền vững về mặt kinh doanh hay về mặt nhân sự của doanh nghiệp đó. VHDN chính là một hệ thống chung đòi hỏi từng thành viên trong doanh nghiệp phải có được sự hiểu biết và đối xử với nhau đúng theo nền tảng giá trị doanh nghiệp đang có. VHDN là một trong những tài sản vô giá của mỗi doanh nghiệp và nó là công cụ quan trọng trong việc quản lý điều hành của mỗi doanh nghiệp. Trong luận văn này tác giả tiếp cận theo khái niệm về VHDN của Schein (2010): VHDN là sự tổng hợp đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, các thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một doanh nghiệp đã biết.
Các thành phần của VHDN Mô hình văn hóa doanh nghiệp của Recardo and Jolly (1997) Theo Recardo & Jolly (1997), khi nói đến văn hóa công ty, người ta thường nói về hệ thống các giá trị và niềm tin được hiểu và chia sẻ bởi các thành viên trong một tổ chức. Một nền văn hóa giúp định hình và xác định các hành vi ứng xử của các thành viên và các chính sách trong tổ chức. VHDN được đo lường dựa trên tám khía cạnh bao gồm: 10 Giao tiếp: số lượng và các hình thức giao tiếp, các thông tin gì được giao tiếp và bằng cách nào, có phải hệ thống giao tiếp mở; Đào tạo và phát triển: Cam kết của các nhà quản trị cung cấp các cơ hội phát triển và tổ chức cho phép các kỹ năng mới để ứng dụng vào công việc. Bên cạnh đó, các nhà quản trị cung cấp các chương trình đào tạo cho nhu cầu phát triển hiện tại hay tương lai của nhân viên; Phần thưởng và sự công nhận: Các hành vi nào thì được thưởng và các hình thức thưởng được sử dụng, các nhân viên được thưởng theo cá nhân hay theo nhóm; những tiêu chuẩn để thăng chức và mức độ mà tổ chức cung cấp phản hồi về mức độ hoàn thành công việc; Ra quyết định: Ra quyết định liên quan đến các câu hỏi như các quyết định được tạo ra như thế nào và các mâu thuẫn được giải quyết ra sao; các quyết định nhanh hay chậm, tổ chức có mang tính đẳng cấp cao; việc ra quyết định là tâp trung hay phân quyền; Chấp nhận rủi ro: Sự sáng tạo và cải tiến được đánh giá cao và tưởng thưởng; chấp nhận rủi ro được khuyến khích, có sự rộng mở với các ý tưởng mới; mọi người bị trừng phạt hay được khuyến khích để thử nghiệm các ý tưởng mới.
Định hướng kế hoạch: Hoạch định dài hạn hay ngắn hạn và định hướng kế hoạch tương lai; các tầm nhìn, chiến lược, mục tiêu nào được chia sẻ với nhân viên; nhân viên cam kết ở cấp độ nào để đạt chiến lược của doanh nghiệp và các mục tiêu khác của tổ chức; Làm việc nhóm: Khía cạnh này liên quan đến các vấn đề đó là tầm quan trọng, hình thức và sự hiệu quả của làm việc nhóm trong tổ chức. Nó bao gồm tầm quan trọng của sự hợp tác giữa các phòng ban khác nhau, sự tin tưởng giữa các bộ phận chức năng hay các đơn vị khác nhau và mức độ hỗ trợ đối với quá trình thực hiện công việc. Các chính sách quản trị: Khía cạnh này đo lường sự công bằng và nhất quán với các chính sách được thực thi, sự ảnh hưởng của phong cách 11 quản trị đối với nhân viên, mức độ nhà quản trị cung cấp một môi trường làm việc an toàn.