Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Lịch sử mang tên "Trung Quốc đối với cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam" do sinh viên Vũ Trung Hiếu thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phạm Quốc Sử tại Khoa Sư phạm, Trường Đại học Thủ đô Hà Nội (tháng 5 năm 2021).

Về bối cảnh thực tiễn, sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa mới thành lập đã phải đối mặt với tình thế "ngàn cân treo sợi tóc": nạn đói hoành hành, tài chính kiệt quệ, hơn 90% dân số mù chữ và nguy cơ ngoại xâm bao vây. Quân đội Anh tiến vào giải giáp quân Nhật ở phía Nam nhưng thực chất yểm trợ thực dân Pháp nổ súng tái chiếm Sài Gòn (ngày 23 tháng 9 năm 1945). Ở phía Bắc, hơn 20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc (quân Tưởng) tràn vào với danh nghĩa Đồng Minh nhưng mưu đồ lật đổ chính quyền cách mạng non trẻ. Đến năm 1949, cuộc nội chiến Quốc - Cộng ngã ngũ với sự ra đời của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (ngày 1 tháng 10 năm 1949), mở ra một cục diện địa - chính trị mới đối với cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Xuất phát từ thực tiễn lịch sử đó, tác giả nhận thấy các công trình nghiên cứu trước đây chưa thật sự nhìn nhận một cách công bằng và toàn diện về những đóng góp cũng như tác động nhiều mặt của Trung Quốc đối với cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:

  1. Đánh giá khách quan, toàn diện tác động và ảnh hưởng của nhân tố Trung Quốc đối với cuộc kháng chiến chống Pháp của quân và dân Việt Nam từ góc độ chính trị và quân sự.
  2. Làm rõ bản chất sự can thiệp của chính quyền Trung Hoa Dân quốc giai đoạn 1945-1946, cũng như mối quan hệ hợp tác giữa hai Đảng Cộng sản trong giai đoạn 1946-1949.
  3. Phân tích cụ thể quy mô viện trợ vật chất, khí tài và vai trò của Đoàn cố vấn quân sự Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa từ năm 1950 đến năm 1954.
  4. Rút ra bài học kinh nghiệm và nhận thức lịch sử về việc xử lý các yếu tố bên ngoài chi phối tiến trình lịch sử Việt Nam hiện đại.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các tác động, ảnh hưởng của Trung Quốc (bao gồm Trung Hoa Quốc dân Đảng, Đảng Cộng sản Trung Quốc và Nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa) đối với tiến trình kháng chiến chống thực dân Pháp của Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung tại Việt Nam và khu vực biên giới Việt - Trung; phạm vi thời gian trải dài từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến khi ký kết Hiệp định Geneve vào tháng 7 năm 1954.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được triển khai dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp quan điểm, đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh và tranh thủ sự ủng hộ quốc tế của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tác giả sử dụng ba phương pháp nghiên cứu lịch sử chuyên ngành:

  • Phương pháp lịch sử: Tái hiện các sự kiện lịch sử nối tiếp nhau theo quan hệ nhân quả và trình tự thời gian, từ sự kiện quân Pháp thay thế quân Trung Hoa Dân quốc năm 1946, ký kết Tạm ước 14-9-1946, Toàn quốc kháng chiến, đến các chiến dịch quân sự lớn và Hội nghị Geneve 1954.
  • Phương pháp logic: Làm sáng tỏ bản chất các sự kiện mang tính bước ngoặt chi phối cục diện chiến tranh, điển hình như Chiến dịch Biên giới Thu - Đông (1950) mở toang cánh cửa liên lạc quốc tế và Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954) kết thúc chiến tranh.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp tư liệu: Khai thác, đối chiếu, chọn lọc và hệ thống hóa các văn kiện lịch sử, hồi ký của các tướng lĩnh và công trình nghiên cứu chuyên sâu.

Nguồn dữ liệu của khóa luận bao gồm:

  • Văn kiện chính thức: Văn kiện Đảng - Toàn tập (Tập 8), Sắc lệnh số 4 của Chính phủ lâm thời, Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến, các chỉ thị của Trung ương Đảng.
  • Giáo trình và công trình nghiên cứu lịch sử: Đại cương lịch sử Việt Nam tập III (Lê Mậu Hãn, Trần Bá Đệ, Nguyễn Văn Thư); Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954 (Nhà xuất bản Quân đội nhân dân); Quan hệ Trung Quốc - Việt Nam trong quá trình cách mạng hai nước 1948-1979 (Đào Quang Cát).
  • Hồi ký và tài liệu nhân chứng: Tổng tập hồi ký và Những năm tháng không thể nào quên (Đại tướng Võ Nguyên Giáp); Hồi ký Lê Trọng Tấn; Thời sôi động (Đại tướng Chu Huy Mân); sách chuyên khảo Tại sao Việt Nam? (Archimedes L.A. Patti).
  • Tạp chí và bài báo chuyên ngành: Các bài viết trên Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc (ThS. Nguyễn Phương Hoa), Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Tạp chí Lý luận chính trị, Báo Cứu quốc, Báo Nhân dân và Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam (1945-1954)

Chương 1 hệ thống hóa toàn cảnh cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam qua các nội dung chính:

  • Bối cảnh và nguyên nhân kháng chiến: Sau ngày 2-9-1945, Chính phủ lâm thời tổ chức cứu đói giải quyết hậu quả nạn đói năm 1945. Nha Bình dân học vụ thành lập ngày 18-9-1945 cùng Lời kêu gọi chống nạn thất học (ngày 4-10-1945) giúp đẩy lùi nạn mù chữ (chiếm trên 90% dân số trước đó). Để giải quyết khủng hoảng tài chính, Sắc lệnh số 4 thành lập "Quỹ độc lập" và phong trào "Tuần lễ Vàng" (17-24/9/1945) đã vận động nhân dân quyên góp được 370 kg vàng, 20 triệu đồng vào Quỹ độc lập và 40 triệu đồng vào Quỹ đảm phụ quốc phòng. Nguyên nhân sâu xa của cuộc chiến là dã tâm tái chiếm Đông Dương của thực dân Pháp; nguyên nhân trực tiếp bắt nguồn từ các hành động khiêu khích của Pháp tại Hải Phòng (tháng 11-1946) và tối hậu thư ngày 19-12-1946 tại Hà Nội, buộc Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến.
  • Đường lối kháng chiến: Xác định qua Chỉ thị Toàn dân kháng chiến (12-12-1946), tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi của Trường Chinh (9-1947) và Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II (1951). Tính chất cuộc kháng chiến là "dân tộc dân chủ nhân dân", phương châm tác chiến cốt lõi gồm: "Toàn dân, toàn diện, trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh, tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế".
  • Các thắng lợi quân sự tiêu biểu:
    • Cuộc chiến đấu 60 ngày đêm bảo vệ Hà Nội (19/12/1946 - 17/2/1947), cầm chân địch để các cơ quan đầu não rút lên chiến khu an toàn.
    • Chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông (1947), đánh bại 12.000 quân Pháp, bẻ gãy chiến lược "đánh nhanh thắng nhanh".
    • Chiến dịch Biên giới (1950), đánh chiếm Đông Khê (16-18/9/1950), tiêu diệt các binh đoàn Le Page và Charton, khai thông 750 km biên giới phía Bắc.
    • Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954): Quân đội Việt Nam huy động 4 đại đoàn bộ binh (308, 312, 316, 304) và Đại đoàn công pháo 351 với tổng quân số khoảng 55.000 người, tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn cứ điểm gồm 16.200 quân Pháp sau 56 ngày đêm (13/3 - 7/5/1954).
  • Kết quả chung và Hiệp định Geneve: Hiệp định Geneve ký ngày 21-7-1954 chấm dứt chiến tranh. Thống kê toàn cục chiến tranh ghi nhận tổn thất của quân viễn chinh Pháp là 140.867 người chết và mất tích, 65.125 người bị thương; quân đồng minh bản xứ thiệt hại 419.000 người; Pháp mất 435 máy bay, 603 tàu chiến/ca nô, 9.283 xe quân sự, 255 khẩu pháo, 504 xe tăng - thiết giáp và 130.000 khẩu súng. Phía lực lượng kháng chiến Việt Nam có 191.605 người hy sinh.

Chương 2: Trung Quốc đối với cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1949

Chương 2 phân tích sự can thiệp của chính quyền Tưởng Giới Thạch và mối quan hệ giúp đỡ qua lại giữa hai Đảng Cộng sản trước khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời:

  • Sự can thiệp phá hoại của Trung Hoa Dân quốc (1945-1946): Hơn 20 vạn quân do Lư Hán và Tiêu Văn chỉ huy tràn vào miền Bắc theo kế hoạch "Hoa quân nhập Việt". Tướng lĩnh Tưởng đòi kiểm tra quân số, đòi bố trí sĩ quan liên lạc ở từng bộ, ép đổi múi giờ theo Trung Quốc, bắt chính phủ Việt Nam cung cấp gạo và lưu hành tiền mất giá "Quan kim", "Quốc tệ". Lực lượng này gây rối, tước vũ khí tự vệ tại Hải Phòng, Thanh Hóa, Nghệ An (quân đoàn Khâu Bỉnh Thương), Hà Tĩnh, Quảng Trị. Quân Tưởng hậu thuẫn các đảng phái đối lập (Việt Quốc của Vũ Hồng Khanh, Việt Cách của Nguyễn Hải Thần), gây sức ép buộc Việt Minh nhường 50 ghế Quốc hội không qua bầu cử. Ngày 28-2-1946, Trung Hoa Dân quốc ký Hiệp ước Hoa - Pháp tại Trùng Khánh để Pháp thay chân ở miền Bắc, kéo dài thời gian đóng quân đến ngày 18-9-1946 mới rút hết đơn vị cuối cùng khỏi Hải Phòng.
  • Quan hệ hợp tác với Đảng Cộng sản Trung Quốc: Tác giả dẫn chứng mối quan hệ hữu nghị truyền thống từ thập niên 1920 tại Quảng Châu, Hương Cảng, Trường Quân sự Hoàng Phố. Giai đoạn 1946-1949, dù còn muôn vàn khó khăn, Việt Nam đã giúp đỡ ĐCSTQ: cưu mang 600 cán bộ, chiến sĩ du kích Trung đoàn 1 thuộc ĐCSTQ bị quân Tưởng truy kích; thành lập Ủy ban công tác Tả Giang (12-1946) trên đất Cao Bằng; hỗ trợ hơn 1.000 dân bộ đội vùng Xuân Tú - Long Châu sơ tán sang Việt Nam (6-1947); phối hợp biên phòng theo đề nghị của Tư lệnh Biên khu Điền Quế Châu Trang (4-1948).
  • Chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn (1949): Thực hiện chỉ thị ngày 23-4-1949 của Bộ Tổng tư lệnh, quân đội Việt Nam phối hợp với lực lượng vũ trang ĐCSTQ mở chiến dịch giải phóng khu Ung - Long - Khâm. Bộ chỉ huy chiến dịch do đồng chí Lê Quảng Ba làm Tư lệnh, Trần Minh Giang (phía Trung Quốc) làm Chính trị viên; đồng chí Chu Huy Mân làm Phó tư lệnh mặt trận phía Tây kiêm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 74. Lực lượng Việt Nam gồm Tiểu đoàn 73 (Trung đoàn 74), Tiểu đoàn 35, một đại đội pháo 75 mm, một đại đội trợ chiến và hai đại đội bộ đội địa phương huyện Văn Uyên, Thoát Lãng. Đêm 12-5-1949, quân đội ta vượt biên giới tiến công đồn Thủy Khẩu, giải phóng dải đất dài 30 km từ Thủy Khẩu, La Hồi, Hạ Đống đến Long Châu trong vòng 15 ngày, tiêu diệt các vị trí quân Tưởng tại huyện Phòng Thành và hoàn thành chiến dịch vào tháng 10-1949.

Chương 3: Sự hỗ trợ và tác động của Nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đối với cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam từ năm 1949 đến năm 1954

Chương 3 trình bày chi tiết sự viện trợ vật chất và vai trò cố vấn của Trung Quốc trong giai đoạn 1950-1954:

  • Hoạt động ngoại giao và nguyên nhân viện trợ: Ngày 18-1-1950, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là quốc gia đầu tiên công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cuối tháng 1-1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh bí mật sang Bắc Kinh hội đàm với Mao Trạch Đông. Phía Trung Quốc từ chối đưa quân trực tiếp tham chiến nhưng đồng ý gửi cố vấn và viện trợ vũ khí, trang thiết bị. Động lực viện trợ của Bắc Kinh xuất phát từ ba yếu tố: bảo vệ an ninh biên giới phía Nam (tránh nguy cơ tàn quân Quốc dân Đảng cấu kết với nước ngoài), thực hiện nghĩa vụ quốc tế giữa các nước cùng chung ý thức hệ cộng sản, và duy trì ảnh hưởng truyền thống với các nước láng giềng Đông Dương.
  • Số liệu viện trợ quân sự và hậu cần:
Giai đoạn / Sự kiện Danh mục và khối lượng viện trợ cụ thể
Tháng 4 đến tháng 9 năm 1950 1.700 khẩu tiểu liên và súng máy, 60 khẩu pháo, 150 khẩu súng cối, 14.000 khẩu súng trường và súng lục, 300 khẩu bazooka, 2.800 tấn lương thực cùng nhiều quân trang, đạn dược.
Đào tạo quân sự (đến tháng 6-1950) Tiếp nhận 3.100 cán bộ, chiến sĩ Việt Nam sang học tập (650 cán bộ học bổ túc trung/sơ cấp, 2.450 học viên chuyên ngành pháo binh, công binh...).
Giai đoạn 1951 - 1952 Hỗ trợ trang bị xây dựng 01 trung đoàn lựu pháo 105 mm (tháng 7-1951), cung cấp một số pháo cao xạ 37 mm (năm 1951) và súng cối 120 mm (năm 1952).
Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954) Cung cấp 1.700 tấn gạo (chiếm 6,8% tổng lượng gạo huy động), 3.600 viên đạn pháo 105 mm (chiếm 18% tổng số đạn pháo sử dụng trong chiến dịch); chuyển bổ sung 7.400 viên đạn pháo 105 mm (đến nơi vào tháng 5-1954 sau khi trận đánh kết thúc).
  • Vai trò của Đoàn cố vấn quân sự và Tướng Trần Canh: Tướng Trần Canh sang Việt Nam ngày 7-7-1950 và làm việc với Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng La Quý Ba tại Thái Nguyên vào ngày 28-7-1950. Trong Chiến dịch Biên giới, Trần Canh đề xuất chiến thuật then chốt: "đánh điểm, diệt viện", khuyên quân đội ta không đánh thẳng vào pháo đài Cao Bằng mà tiến công cứ điểm Đông Khê để nhử viện binh Pháp từ Lạng Sơn lên rồi tiêu diệt. Sau khi giải phóng Đông Khê, Trần Canh thẳng thắn nhận xét những thiếu sót về kinh nghiệm chỉ huy cấp tiểu đoàn trở lên, kỷ luật nổ súng và việc báo cáo tình hình chiến sự của bộ đội Việt Nam; đồng thời đóng góp ý kiến về chính sách khen thưởng binh sĩ và công tác địch vận đối với tù binh.
  • Tác động quân sự và ngoại giao năm 1954: Viện trợ pháo binh và đạn dược của Trung Quốc tạo điều kiện tăng cường hỏa lực cho Đại đoàn 351 tại lòng chảo Điện Biên Phủ. Trên bàn đàm phán Hội nghị Geneve (khai mạc tháng 4-1954), sự tham gia của phái đoàn Trung Quốc đã tác động trực tiếp đến tiến trình thương lượng đi đến thỏa hiệp đình chiến ở Đông Dương vào ngày 21-7-1954.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể dựa trên nguồn tư liệu xác thực:

  • Hệ thống hóa hai mặt tác động của nhân tố Trung Quốc: Khóa luận phân định rõ ranh giới giữa bản chất can thiệp phá hoại của Trung Hoa Dân quốc giai đoạn 1945-1946 với sự tương trợ cách mạng của Đảng Cộng sản Trung Quốc và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa giai đoạn 1949-1954.
  • Xác thực các số liệu viện trợ lịch sử: Làm rõ các mốc khối lượng viện trợ cụ thể về vũ khí (súng trường, bazooka, súng cối, lựu pháo 105 mm, pháo cao xạ 37 mm), lương thực (2.800 tấn năm 1950, 1.700 tấn gạo cho Điện Biên Phủ) và công tác đào tạo (3.100 học viên quân sự năm 1950).
  • Làm rõ vai trò cố vấn quân sự: Phân tích chi tiết đóng góp của tướng Trần Canh trong việc đề xuất phương châm tác chiến "đánh điểm, diệt viện" tại Chiến dịch Biên giới Thu - Đông năm 1950.
  • Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Tác giả tự đánh giá khóa luận đã khắc phục cách nhìn nhận phiến diện, góp phần nhìn nhận khách quan, công bằng hơn về vai trò và sự đóng góp của Trung Quốc trong giai đoạn bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống Pháp, đồng thời khẳng định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và tinh thần tự lực cánh sinh của Đảng Lao động Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của khóa luận: Do giới hạn về nguồn tài liệu tiếp cận, tác giả chủ yếu khai thác các nguồn sử liệu thứ cấp tiếng Việt, báo chí, tạp chí chuyên ngành và hồi ký của các tướng lĩnh đã xuất bản trong nước. Khóa luận chưa thể đối chiếu trực tiếp với các tài liệu lưu trữ gốc bằng chữ Hán từ văn khố của Đảng Cộng sản Trung Quốc hoặc tài liệu giải mật tiếng Pháp từ phía Bộ Quốc phòng Pháp.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi khảo cứu sang các hồ sơ ngoại giao, biên bản đàm phán chi tiết tại Hội nghị Geneve năm 1954 và các báo cáo nội bộ của Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc tại Việt Nam giai đoạn 1950-1954 nhằm có cái nhìn đa chiều, sâu sắc hơn.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu học thuật hữu ích cho:

  • Giảng viên, sinh viên và học viên chuyên ngành Sư phạm Lịch sử, Lịch sử Việt Nam, Quan hệ quốc tế và Lịch sử ngoại giao.
  • Những người nghiên cứu về Lịch sử Chiến tranh Đông Dương (1945-1954), quan hệ ngoại giao Việt Nam - Trung Quốc thời kỳ hiện đại.
  • Nội dung có giá trị tham khảo cao nhất: Tư liệu chi tiết về Chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn năm 1949 (sự phối hợp chiến đấu trực tiếp giữa bộ đội Việt Nam và Giải phóng quân Trung Quốc) và các số liệu viện trợ quân sự, hậu cần giai đoạn 1950-1954 tại Chương 2 và Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

1. Quân đội Trung Hoa Dân quốc đã đưa ra những yêu sách và hành động phá hoại cụ thể nào tại miền Bắc Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám năm 1945?
Quân Tưởng đưa hơn 20 vạn quân vào miền Bắc, đòi Chủ tịch Hồ Chí Minh báo cáo quân số, đòi đặt một liên lạc viên Trung Quốc tại mỗi bộ, yêu cầu lùi giờ một tiếng theo giờ Trung Quốc, ép chính phủ ta cung cấp gạo và chấp nhận tiêu tiền "Quan kim", "Quốc tệ". Về chính trị, họ hậu thuẫn cho Việt Quốc, Việt Cách phá hoại an ninh, đòi cải tổ chính phủ và ép ta nhường 50 ghế Quốc hội không thông qua bầu cử.

2. Việt Nam đã hỗ trợ những gì cho lực lượng cách mạng của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong giai đoạn 1946-1949?
Việt Nam đã cưu mang 600 du kích Trung đoàn 1 thuộc ĐCSTQ sang lánh nạn (đầu năm 1946); cho phép thành lập Ủy ban công tác Tả Giang tại Cao Bằng (12-1946); hỗ trợ nơi ở và lương thực cho hơn 1.000 dân bộ đội vùng Xuân Tú - Long Châu sang sơ tán trong 4 tháng (6-1947); đồng thời tiếp nhận đề nghị phối hợp tác chiến bảo vệ biên giới từ Biên khu Điền Quế (4-1948).

3. Lực lượng quân đội Việt Nam tham gia và đạt kết quả gì trong Chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn (năm 1949)?
Bộ Tổng tư lệnh điều động Tiểu đoàn 73 (Trung đoàn 74), Tiểu đoàn 35, một đại đội pháo 75 mm, một đại đội trợ chiến và hai đại đội địa phương huyện Văn Uyên, Thoát Lãng dưới sự chỉ huy của Tư lệnh Lê Quảng Ba và Phó tư lệnh Chu Huy Mân. Kết quả, ta hạ đồn Thủy Khẩu, tiêu diệt quân Tưởng tại La Hồi, giải phóng dải đất 30 km từ Thủy Khẩu đến Long Châu trong 15 ngày, chiếm 10/12 vị trí của địch ở huyện Phòng Thành, giúp lực lượng ĐCSTQ mở rộng vùng giải phóng giáp biên giới.

4. Trung Quốc đã viện trợ những trang bị và vật chất hậu cần nào cho Việt Nam trong năm 1950 và Chiến dịch Điện Biên Phủ?
Từ tháng 4 đến tháng 9-1950, Trung Quốc viện trợ 1.700 tiểu liên và súng máy, 60 khẩu pháo, 150 súng cối, 14.000 súng trường/súng lục, 300 súng bazooka và 2.800 tấn thực phẩm. Tại Chiến dịch Điện Biên Phủ, Trung Quốc cung cấp 1.700 tấn gạo (chiếm 6,8% tổng lượng gạo huy động) và 3.600 viên đạn pháo 105 mm (chiếm 18% lượng đạn pháo tiêu thụ trong chiến dịch).

5. Tướng Trần Canh đã đóng vai trò cố vấn tác chiến như thế nào trong Chiến dịch Biên giới năm 1950?
Tướng Trần Canh đề xuất phương châm "đánh điểm, diệt viện", khuyên Bộ chỉ huy Việt Nam không đánh thẳng vào thị xã Cao Bằng mà tập trung đánh chiếm cứ điểm Đông Khê để cô lập Cao Bằng và nhử quân cứu viện Pháp từ Lạng Sơn lên để tiêu diệt trên đường số 4. Sau trận đánh, ông cũng đóng góp ý kiến về việc chấn chỉnh chỉ huy, thực hiện chính sách đối xử tù binh và công tác khen thưởng chiến sĩ.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Trung Hiếu đã dựng lại một cách có hệ thống và khách quan bức tranh toàn cảnh về tác động của nhân tố Trung Quốc đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954. Công trình làm rõ sự khác biệt giữa mưu đồ phá hoại của chính quyền Trung Hoa Dân quốc giai đoạn đầu với sự hỗ trợ vật chất, đào tạo và cố vấn tác chiến của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa giai đoạn sau. Các số liệu và sự kiện lịch sử trong khóa luận cung cấp cơ sở tư liệu hữu ích cho việc nghiên cứu lịch sử quân sự và lịch sử ngoại giao Việt Nam thời kỳ hiện đại.