chương 1 Ở chương này, khoá luận đã trình bày cho người đọc có được cái nhìn tổng quan về các vấn đề nghiên cứu cũng như đưa ra những vấn đề cơ bản nhất của nghiên cứu như lý don chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa và hạn chế của việc nghiên cứu. Bên cạnh đó, khoá luận cũng nêu ra được bố cục đề tài từ đó làm cơ sở cho việc tiếp tục nghiên cứu các chương tiếp theo. 8 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Cơ sở lý luận về trách nhiệm xã hội và hành vi ngƣời tiêu dùng 2.1 Khái niệm về trách nhiệm xã hội Trách nghiệp xã hội của doanh nghiệp (tiếng Anh: Corporate social responsibility, viết tắt: CSR) là một xu hướng bắt đầu từ thế kỷ 20, vì vào những năm 1950 những nghiên cứu khoa học đầu tiên về CSR bắt đầu xuất hiện. Đối với các công ty liên quan, họ thật sự quan tâm đến việc thực hiện tốt trách nhiệm xã hội của một doanh nghiệp, do họ nhận thấy được tầm quan trọng to lớn thông qua cách nó ảnh hưởng đến người tiêu dùng.R một chuyên gia nghiên cứu tổ chức đã xuất bản cuốn sách “Social responsibilities of the Businessmen”.
Trong cuốn sách này, CRS được Bowen xác định là trách nhiệm của chủ các doanh nghiệp không làm tổn hại đến các quyền lợi và lợi ích của người khác; chủ doanh nghiệp phải có lòng từ thiện và bù đắp những thiệt hại mà doanh nghiệp mình đã gây ra làm tổn hại cho xã hội… Tuy nhiên đã có rất nhiều là nghiên cứu đưa ra các quan điểm khác nhau về thuật ngữ này do đó vẫn chưa có sự thống nhất. Một trong những lý do khiến các định nghĩa trở nên khác biệt đó là do chúng được đề cập từ các góc nhìn khác nhau. Chẳng hạn, một nhà kinh doanh có thể xác định CSR là một chiến lược kinh doanh, một nhà hoạt động phi chính phủ có thể coi đó là “hành động đánh lạc hướng người tiêu dùng về môi trường” (greenwash) hay đối với một quan chức chính phủ nó có thể coi là một quy định tự nguyện. CSR rất khó để định nghĩa, các đối tượng khác nhau sẽ cho ra các nhận định khác nhau.
Vì vậy cho đến nay vẫn chưa có khái niệm nhất quán nào về CSR. Theo quan điểm của Sethi (1975): “CSR là nâng hành vi của doanh nghiệp lên một mức phù hợp với các quy phạm, giá trị và kỳ vọng xã hội đang phổ biến”. Những người theo quan điểm này cho rằng doanh nghiệp không có trách nhiệm với xã hội, mà chỉ có trách nhiệm với cổ đông và người lao động bởi vì, khi thực hiện hoạt động kinh doanh doanh nghiệp đã phải đóng thuế cho nhà nước. 9 Tuy nhiên trong xã hội phát triển và hội nhập hoá ngày nay, doanh nghiệp không phải chỉ cần quan tâm đến việc tạo ra lợi nhuận tối đa cho các cổ đông, mà còn phải quan tâm đến các cá nhân và các nhóm có thể bị tác động bởi hoạt động của doanh nghiệp hay có thể ảnh hưởng đối với các hoạt động đó.
Trong trường hợp này, doanh nghiệp đóng vai trò làm thỏa mãn tất các thành phần có liên quan và trở thành nơi phân định các lợi ích khác nhau cho các thành phần có liên quan đó. Yêu cầu này có thể lớn hoặc nhỏ tùy theo các thành phần được xem xét: có những thành phần mà doanh nghiệp có các mối quan hệ khế ước (như người lao động, nhà cung ứng, khách hàng,.), và những thành phần mà doanh nghiệp không có bất kỳ mối quan hệ khế ước nào (như các nhóm lợi ích khác nhau, người dân sống gần nơi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, những tổ chức bảo vệ môi trường,. Tuỳ thuộc vào điều kiện, đặc điểm và trình độ phát triển mà mỗi tổ chức, mỗi doanh nghiệp, chính phủ sẽ đưa ra những nhìn nhận riêng về CSR. Theo Davis (1973) “CSR là sự quan tâm và phản ứng của doanh nghiệp đối với các vấn đề vượt ngoài việc thoả mãn những yêu cầu pháp lý, kinh tế, công nghệ”.
Carroll (1979) cho rằng CSR đã được phát triển vào đầu những năm 1930. CSR có thể được định nghĩa là xử lý các bên liên quan của doanh nghiệp có đạo đức hoặc trong một cách có trách nhiệm. CSR là một khái niệm mà theo đó các tổ chức xem xét lợi ích của xã hội bằng cách chịu trách nhiệm về tác động động của các hoạt động của doanh nghiệp đối với các bên liên quan cũng như với môi trường. Một số nghiên cứu khác của Carroll và Bowen (1991) cũng khẳng định rằng CSR là sự mong đợi về kinh tế, luật pháp, đạo đức và lòng từ thiện của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định.
Ngoài việc đóng thuế, doanh nghiệp cần phải có những hành động thể hiện trách nhiệm xã hội với môi trường, cộng đồng, người lao động và các tổ chức có liên quan. Bởi những người theo quan điểm này cho rằng các doanh nghiệp với tư cách là chủ thể kinh doanh tại thị trường nào đó, họ đã sử dụng nguồn nhân lực của xã hội, khai thác nguồn lực tự nhiên và trong quá trình 10 thực hiện hoạt động kinh doanh, họ đã gây ra ko ít tổn hại đối với môi trường tự nhiên và xã hội. Theo Carroll (1991) CSR là sự mong đợi của xã hội về kinh tế, pháp luật, đạo đức và lòng từ thiện, do đó ông đề xuất 4 cấp độ (kim tự tháp) của CSR: trách nhiệm kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện. Dựa vào các thành phần trong kim tự tháp, CSR nhằm tạo ra lợi nhuận, tuân thủ pháp luật, có đạo đức, và là một công dân tốt.
Mô hình kim tự tháp trách nhiệm xã hội Nguồn: Carroll (1991) Trong khi đó, Carroll (1999) cho rằng CSR còn có phạm vi lớn hơn “là tất cả các vấn đề về kinh tế, pháp lý, đạo đức và những lĩnh vực khác mà xã hội trong đợi ở doanh nghiệp trong mỗi thời điểm nhất định”. Một trong số các định nghĩa được sử dụng nhiều nhất đó là theo chuyên gia của ngân hàng Thế giới (WB) đã nhận định “CSR là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào sự phát triển kinh tế bền vững, hợp tác cùng người lao động, gia đình 11 họ, cộng đồng và xã hội nói chung để cải thiện chất lượng cuộc sống cho họ, sao cho vừa tốt cho doanh nghiệp, vừa ích lợi cho phát triển”. Ngày nay, có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến CSR. Nhưng vẫn có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm, nội dung và phạm vi của CSR.
Trong đó, mô hình “kim tự tháp” của Carroll (1991) có tính toàn diện và sử dụng rộng rãi nhất. Nghiên cứu này sẽ tiếp tục kế thừa các thành phần của CSR theo các nghiên cứu trên. Lợi ích của doanh nghiệp khi thực hiện CSR “Chúng ta đừng nên coi CSR là một gánh nặng mà nên coi đó là cơ hội, là mục đích tự thân, là một kinh nghiệm để doanh nghiệp hoạt động tốt hơn chứ không phải là một gánh nặng của chi phí, áp lực từ phía Nhà nước. Do đó, hãy tìm các giải pháp để phát triển tốt hơn cho nơi mình đang sống” - Theo ông Martin Neureiter là chuyên gia cao cấp, Trưởng ban phụ trách triển khai ISO 26000.
Ngày nay, trách nhiệm xã hội được xem như là một trong những chiến lược kinh doanh hàng đầu của doanh nghiệp hơn là những quy định hay từ thiện bắt buộc. Khi doanh nghiệp quan tâm đến việc thực hiện tốt trách nhiệm xã hội sẽ mang lại những lợi ích sau: Một là, giúp doanh nghiệp gia tăng lợi nhuận. Theo kết quả khảo sát do hãng nghiên cứu Nielsen thực hiện, gần ¾ người Việt được hỏi khẳng định rằng họ sẵn sàng trả thêm tiền cho sản phẩm hoặc dịch vụ đến từ các công ty có cam kết phát triển cộng đồng và môi trường. Việt Nam là quốc gia đứng thứ hai thế giới, chỉ sau Philippines có tỉ lệ người tiêu dùng thể hiện cảm tình với trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.
Do đó, việc thực hiện tốt CSR có thể tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Hai là, thực hiện tốt trách nhiệm xã hội giúp doanh nghiệp nâng cao giá trị thương hiệu và uy tín. Vinamilk là một ví dụ điển hình cho luận điểm này. Mặc dù năm 2020 là một năm đầy khó khăn và thử thách đối với doanh nghiệp bởi ảnh hưởng của dịch Covid - 19, Vinamilk vẫn là một trong những doanh nghiệp giữ vị 12 trí top đầu 100 doanh nghiệp phát triển bền vững tại Việt Nam. Trong năm 2020 Vinamilk đã liên tục triển khai các hoạt động trách nhiệm xã hội (CSR) điển hình là chương trình “Sữa học đường” tại các trường mầm non và tiểu học trên khắp cả nước, cùng với rất nhiều hoạt động xã hội khác đã góp phần xây dựng xã hội, đem lại được sự ủng hộ đông đảo của cộng đồng và phụ huynh học sinh.
Khi doanh nghiệp được cấp chứng chỉ CSR, đây được coi là “giấy thông hành” giúp doanh nghiệp cạnh tranh được với các đối thủ khác và có nhiều cơ hội để thử sức trên thị trường quốc tế. Đồng thời cũng giúp doanh nghiệp tăng doanh thu, thu hút các nhà đầu tư, đối tác và người lao động. Ba là, thực hiện CSR góp phần giúp doanh nghiệp có nhiều cơ hội thu hút các nhân tài. Nhân viên có năng lực là yếu tố cốt lõi quyết định năng suất, chất lượng sản phẩm và sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp.
Do đó việc thu hút được nhiều nhân tài luôn được các công ty đặc biệt chú trọng. Có được các nhân viên tốt đã khó, việc giữ chân họ lại càng khó hơn, nhất là trong nền kinh tế cạnh tranh khốc liệt như ngày nay. Doanh nghiệp cần có những chính sách, chế độ đãi ngộ tốt đối với nhân viên như việc trả lương thoả đáng và công bằng, nhân viên có môi trường làm việc tốt, có nhiều cơ hội để thăng tiến, công nhận sự sáng tạo và tôn trọng ý kiến của họ, đóng bảo hiểm y tế đầy đủ,.sẽ giúp doanh nghiệp thu hút được người tài và giữ chân được nhân viên tốt. Khái niệm về ngƣời tiêu dùng Theo Điều 1 trong Pháp lệnh Bảo vệ người tiêu dùng số 13/1999/PL- UBTVQH10, khái niệm về người tiêu dùng hay người tiêu thụ được cho là người mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng sinh hoạt của cá nhân, gia đình và tổ chức.
Theo đó, người tiêu dùng là những người tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ cuối cùng trong hoạt động kinh doanh - sản xuất của doanh nghiệp.