CHƯƠNG 1 Trong chương này, tác giả đưa ra lý do chọn đề tài nghiên cứu. Phát triển nên mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phương pháp nghiên cứu, đóng góp của đề tài và cuối cùng là thể hiện bao quát kết cấu của bài nghiên cứu. Từ đó giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan về vấn đề nghiên cứu. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN TÍNH HỮU ÍCH CẢM NHẬN VÀ QUYỀN BẢO MẬT RIÊNG TƯ TÁC ĐỘNG ĐẾN Ý ĐỊNH SỬ DỤNG VÍ ĐIỆN TỬ Chương 2 của bài nghiên cứu gồm có 3 phần: phần thứ nhất giới thiệu tổng quan về ví điện tử, tính hữu ích cảm nhận, quyền bảo mật riêng tư và ý định sử dụng; phần thứ hai trình bày các lý thuyết liên quan đến ý định sử dụng ví điện tử; phần thứ ba tổng hợp các nghiên cứu trước trong và ngoài nước liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
Trên các cơ sở đó cho thấy được sự cần thiết của đề tài nghiên cứu và làm tiền đề để xây dựng mô hình nghiên cứu trong chương tiếp theo. TỔNG QUAN VỀ VÍ ĐIỆN TỬ VÀ Ý ĐỊNH VỀ Ý ĐỊNH SỬ DỤNG VỀ VÍ ĐIỆN TỬ 2. Ví điện tử Ví điện tử là một hệ thống dựa trên phầm mềm lưu trữ dữ liệu thanh toán an toàn và mật khẩu của người dùng trên máy tính hoặc thiết bị di động để hỗ trợ không chỉ cho việc mua hàng trực tuyến mà còn cho việc thanh toán tại các thiết bị đầu cuối (POS) của các cửa hàng truyền thống (Caldwell, 2012). Theo Panchde và Kamble (2018), ví điện tử là một loại thẻ hoạt động bằng điện tử và cũng được sử dụng cho các giao dịch được thực hiện trực tuyến thông qua máy tính hoặc điện thoại thông minh và tiện ích của nó giống như thẻ tín dụng hoặc thẻ ghi nợ.
Bên cạnh đó, cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về ví điện tử bởi các nhà nghiên cứu. Trước hết, ví điện tử là sản phẩm phái sinh của Fintech (Thakor, 2020; Knewtson và cộng sự, 2020). Tính hữu ích cảm nhận Tính hữu ích cảm nhận được định nghĩa là mức độ mà một người tin tưởng rằng khi sử dụng một hệ thống cụ thể sẽ giúp họ cải thiện được hiệu quả công việc (Davis, 1989). Davis (1989) đã giải thích điều này rõ hơn thông qua các ví dụ thực tế trong các tổ chức, ở những nơi mà khi hiệu suất làm việc tăng sẽ có những phần thưởng tương xứng, do đó có xu hướng thích thú với nhưng hệ thống hoặc những công việc tăng hiệu suất làm việc.
Vì vậy khi một người dùng tiềm năng được cho 9 rằng một công nghệ có thể giúp cải thiện năng suất làm việc, công nghệ đó được cho là có tính hữu ích cảm nhận cao bởi người sử dụng (Davis, 1989; Jongepier, 2011). Theo Singh (2010) mô tả tính hữu ích cảm nhận như là một công cụ đo lường một người sẽ nghĩ gì về việc sử dụng một hệ thống đặc thù và nó giúp ích cho công việc của họ như thể nào. Vì vậy trong khóa luận này, tính hữu ích cảm nhận có thể được hiểu là mức độ người tiêu dùng tin rằng ví điện tử sẽ mang lại cho họ sự nhanh chóng, giúp họ cải thiện được năng suất làm việc. Đó là mức độ mà người dùng cảm thấy ví điện tử giúp họ thực hiện nhanh chóng các công việc thanh toán, tích lũy và các nhu cầu liên quan đến nhiều mục đích cá nhân khác.
Quyền bảo mật riêng tư Quyền bảo mật riêng tư của ví điện tử được định nghĩa là mức độ mà khách hàng tin rằng việc sử dụng một phương thức thanh toán cụ thể thông qua ứng dụng di động sẽ được giữ an toàn (Amoroso & Magnier-Watanabe, 2012) (Vi và cộng sự, 2020). Người dùng sẽ có sự e ngại nhất định và tránh xa sản phẩm nếu không đáp ứng được về bảo mật/ riêng tư cho người dùng (Milberg và cộng sự, 2000). Hơn nữa, thanh toán qua ví điện tử không có tính năng bảo mật có thể dẫn đến việc truy cập trái phép thông tin cá nhân và cơ hội sinh lợi để tội phạm mạng vi phạm dữ liệu (Kaur và cộng sự, 2018). Quyền bảo mật riêng tư được mô tả là khả năng cá nhân tự giám sát thông tin liên quan đến bản thân (Cliquetet và cộng sự.
Đó là một tính năng quan trọng mà mọi người đều biết. Dựa trên nghiên cứu của (Soodan và cộng sự, 2020), một trong những yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng ví điện tử là quyền riêng tư bảo mật được cho là có tính gợi ý hơn. Thiếu quyền riêng tư bảo mật là một trong những vấn đề khiến khách hàng không mua hàng trừ khi hàng hóa đó được bảo vệ (Milberg, và cộng sự, 2000). Gần đây, quyền riêng bảo mật luôn được người sử dụng đặt lên hàng đầu khi bắt đầu sử dụng một loại ví điện tử nào đó.
Việc thanh toán qua ví điện tử không có tính năng bảo mật có thể dẫn đến việc truy cập trái phép thông tin cá nhân và là cơ hội sinh lợi cho tội phạm mạng vi phạm dữ liệu (Kaur và cộng sự, 2018). Trong 10 nghiên cứu này, quyền bảo mật riêng tư được hiểu là mọi thông tin cá nhân và thông tin giao dịch của người sử dụng được chủ ví điện tử bảo vệ và không có bên thứ 3 sử dụng thông tin này vào mục đích khác. Ý định sử dụng Theo Ajzen (1991), ý định sử dụng là một yếu tố dùng để đánh giá khả năng thực hiện hành vi trong tương lai, ý định sử dụng là một yếu tố tạo động lực, nó thúc đẩy cá nhân sẵn sàng thực hiện hành vi và bị ảnh hưởng trực tiếp bởi thái độ, chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi. Ý định sử dụng được giả định là tiền đề trung gian của hành vi sử dụng, nghiên cứu về ý định sử dụng sẽ dự đoàn tốt đối với hành vi sử dụng (Ajzen, 1991).
Ngoài ra, ý định sử dụng cũng được sử dụng như một yếu tố để dự đoán hành vi thực tế trong phần lớn các nghiên cứu về sử dụng công nghệ (Irani, Dwivedi và Williams, 2009). Do đó, việc hiểu được ý định sử dụng của khách hàng là hết sức quan trọng bởi lẽ hành vi của khách hàng thường có thể được dự đoán bởi ý định của họ, đặc biệt là đối với lĩnh vực công nghệ. Trong nghiên cứu này, ý định sử dụng ví điện tử được hiểu là động lực thúc đẩy thực hiện hành vi sử dụng ví điện tử trong tương lai của người tiêu dùng. TỔNG QUAN VỀ CÁC LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 2.
Lý thuyết mô hình chấp nhận công nghệ (TAM – Technology Acceptance Model) Hình 2. Mô hình chấp nhận công nghệ TAM Tính hữu ích cảm nhận Thái độ Ý định Sử dụng hệ Biến bên sử dụng thống thực tế ngoài Tính dễ sử dụng cảm nhận (Nguồn: Davis, 1898) 11 Năm 1989, một sự kế thừa của thuyết hành động hợp lý của Davis, Bogozzi và Warshaw đã thiết lập mô hình TAM với mục đích là để giải thích các yếu tố quyết định chung của việc chấp nhận máy tính dẫn đến giải thích hành vi của con người dùng công nghệ máy tính cuối cùng trên một phạm vi rộng lớn. Mô hình chấp nhận công nghệ TAM đã giải thích được mối quan hệ giữa thái độ của người dùng và nhận thức về mối quan tâm trong việc áp dụng công nghệ thực tế (Davis, 1989). TAM dựa trên TRA để giải thích và đoán sự quan tâm của người dùng đối với các hệ thống thông tin khác nhau.
Cấu trúc chính của TAM gồm tính hữu ích cảm nhận và tính dễ sử dụng cảm nhận. TAM cơ bản thử nghiệm hai niềm tin cá nhân quan trọng nhất về việc chấp nhận sử dụng công nghệ thông tin: tính hữu ích cảm nhận và tính dễ sử dụng cảm nhận. Tính hữu ích cảm nhận được định nghĩa là mức độ mà một người tin rằng sử dụng một hệ thống cụ thể sẽ nâng cao hiệu quả công việc của mình (Davis, 1989). TAM đang bị chỉ trích vì không cung cấp đủ các yếu tố quyết định cho việc áp dụng công nghệ mới nhất (Sharma, 2019).
Sử dụng mô hình TAM có thể dẫn đến một mô hình nghiên cứu quá đơn giản, đặt biệt là đối với công nghệ tiên tiến. Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) được coi là mô hình phù hợp và có ảnh hưởng nhất trong hành vi chấp nhận đổi mới nhằm giải quyết vấn đề cách mà người dùng chấp nhận và sử dụng công nghệ. Hơn nữa, cấu trúc thái độ trong mô hình TAM gốc nhưng Davis và Venkatesh (1996) loại bỏ cấu trúc thái độ trong phiên bản cuối cùng của TAM sau khi phát hiện tính hữu ích cảm nhận và tính dễ sử dụng cảm nhận ảnh hưởng trực tiếp đến ý định sử dụng của khách hàng. Một kết quả tương tự được báo cáo trong nghiên cứu của Chawla và Joshi (2019) và Ahmad (2021) khi đưa biến thái độ vào trong mô hình và xem nó như một biến độc lập tác động đến ý định sử dụng ví điện tử của khách hàng.
Kết quả là thái độ có tác động tích cực đáng kể lên ý định sử dụng. Bên cạnh đó, Karim và cộng sự (2020) cho rằng để nghiên cứu sự chấp nhận và ý định sử dụng công nghệ mới, TAM được coi là phần mở rộng có ý nghĩa lớn trong nghiên cứu học thuật (Aydin và cộng sự, 2016). Tuy nhiên, các biến TAM ban đầu có thể không nắm bắt được đầy đủ những niềm tin cốt lõi ảnh hưởng đến ý định sử dụng của người tiêu dùng. Để củng cố mô hình, việc thêm một số biến bổ sung để 12 kiểm tra tính phù hợp của TAM là điều cần thiết.
Quyền bảo mật riêng tư là một trong những biến mở rộng được phát hiện là có ý định tích cực đối với ý định sử dụng công nghệ mới (Barry và cộng sự, 2018). Tương tự, dựa trên biến bổ sung đó, kết quả nghiên cứu của Chawla và Joshi (2019) và Karim và cộng sự (2020) cũng làm nổi bật lên được quyền bảo mật riêng tư có tác động tích cực đối với ý định sử dụng ví điện tử. Lý thuyết hợp nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) Hình 2.