Chương 1. Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại các Ngân hàng thương mại. Phương pháp nghiên cứu Chương 3. Thực trạng thanh toán không dùng tiền mặt tạiBIDV Bắc Giang.
Giải pháp phát triển thanh toán không dùng tiền mặt 3 z Chƣơng 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.Tổng quan tình hình nghiên cứu về phát triển thanh toán không dùng tiền mặt Một số nghiên cứu về vấn đề trên: Đặng Công Hoàn (2015), Dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt cho người dân Việt Nam. Phát triển Tài chính Cá nhân-Kinh nghiệm Quốc tế và Thực tiễn Việt Nam, (Sách Chuyên khảo viết chung với các tác giả TS Lê Trung Thành, TS Đinh Thị Thanh Vân), NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội 10/2015. Nghiên cứu có những đóng góp mới về mặt lý luận về dịch vụ TTKDTM và phát triển TTKDTM cho khu vực dân cư: (i) Hoàn thiện các khái niệm liên quan đến dịch vụ TTKDTM cho khu vực dân cư; (ii) Xác định rõ nội dung phát triển dịch vụ TTKDTM giành cho khu vực dân cư trong thời gian tới sẽ theo xu hướng thông qua các công cụ/phương tiện thanh toán hiện đại có ứng dụng công nghệ cao; (iii) Bước đầu xác định bộ chỉ số đánh giá phát triển TTKDTM cho khu vực dân cư, (iv) Hoàn thiện một bước việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển TTKDTM cho khu vực dân cư trong điều kiện phát triển của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế Nguyễn Thị Thúy (2012),Hoàn thiện cơ chế quản lý hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán ở Việt Nam. Tài liệu tập trung làm rõ cơ sở lý luận về cơ chế quản lý và sự can thiệp của Ngân hàng Trung ương nhằm phục vụ cho việc khắc phục những khiếm khuyết của cơ chế quản lý và nâng cao hiệu quả hoạt động thanh toán trong kinh tế thị trường ở Việt Nam.
Bên cạnh đó cũngđã đưa ra những phân tích về thực tiễn hoạt động quản lý hoạt động thanh toán tại các đơn vị cung ứng DVTT và đã sử dụng một số chỉ số điển hình để so sánh đánh giá phát triển dịch vụ TTKDTM như: số lượng giao dịch TTKDTM, tỷ lệ người dân thanh toán qua ngân hàng, tỷ lệ tiền mặt/tổng phương tiện thanh toán (TPTTT). Trần Thị Ánh (2014), Một số giải pháp nhằm tiếp tục phát triển thanh toán 4 z không dùng tiền mặt ở Việt Nam hiện nay. Luận văn đã đánh giá được những thành tựu đạt được, hạn chế và nguyên nhân trong TTKDTM tại Việt Nam, qua đó đề xuất một số giải pháp thúc đẩy TTKDTM tại Việt Nam. Tuy nhiên, các phân tích, đánh giá và các giải pháp còn chung chung, mang nặng tính lý thuyết do đó khó có thể áp dụng được cho các ngân hàng riêng biệt.
Lê Thị Hồng Phượng (2012), Giải pháp mở rộng phương thức thanh toán không dùng tiền mặt đối với khách hàng là cá nhân tại Việt Nam. Luận văn đã nghiên cứu dựa vào bảng hỏi điều tra để phân tích thực trạng TTKDTM đối với khách hàng cá nhân. Từ đó đánh giá những thành quả đạt được, những hạn chế và đưa ra được các giải pháp khắc phục nhằm mở rộng TTKDTM đối với khách hàng cá nhân. Tuy nhiên, luận văn chưa đề cập rõ ràng, cụ thể những hạn chế trong TTKDTM của đối tượng là khách hàng cá nhân.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ tập trung vào một đối tượng là khách hàng cá nhân, do vậy giải pháp mở rộng TTKDTM đối với khách hàng là doanh nghiệp, các tổ chức định chế tài chính còn chưa được giải quyết. Cơ sở lý luận về thanh toán không dùng tiền mặt 1. Khái niệmthanh toán không dùng tiền mặt Tiền tệ đi vào lưu thông thực hiện chức năng phương tiện thanh toán diễn ra dưới hai hình thức là thanh toán bằng tiền mặt và TTKDTM (hay thanh toán qua tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán). Thanh toán bằng tiền mặt là phương thức thanh toán đơn giản và tiện dụng nhất được sử dụng để mua bán hàng hóa một cách dễ dàng.
Tuy nhiên, nó chỉ phù hợp với nền kinh tế có quy mô sản xuất nhỏ, sản xuất chưa phát triển, việc trao đổi thanh toán hàng hóa diễn ra với số lượng nhỏ, trong phạm vi hẹp. Vì vậy, khi nền kinh tế ngày một phát triển với tốc độ cao cả về chất lượng và số lượng thì việc thanh toán bằng tiền mặt không còn đủ khả năng đáp ứng được những nhu cầu thanh toán của toàn bộ nền kinh tế. Việc thanh toán bằng tiền mặt đã bộc lộ một số hạn chế nhất định. Trước hết là việc thanh toán bằng tiền mặt có độ an toàn không cao.
Với khối lượng hàng hóa, dịch vụ giao dịch lớn thì việc thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt sẽ không an toàn, thuận tiện cho cả người chi trả và người thụ hưởng. 5 z NHNN phải bỏ ra chi phí rất lớn để in ấn vận chuyển và bảo quản tiền mặt. Thứ hai thanh toán bằng tiền mặt tạo khẽ hở cho các đơn vị bán không chấp hành chế độ hóa đơn chứng từ, dễ trốn thuế, làm giảm thu NSNN, khó kiểm soát về mục đích, đối tượng các khoản chi.Ngoài ra, một hạn chế quan trọng của việc thanh toán bằng tiền mặt nữa là thanh toán bằng tiền mặt làm giảm khả năng tạo tiền của NHTM, trong khi nền kinh tế luôn có nhu cầu về tiền mặt để thanh toán chi tiêu gây sức ép giả tạo về sự khan hiếm tiền mặt trong nền kinh tế, làm cho giá cả có khả năng tăng cao gây khó khăn cho NHNN trong việc điều tiết chính sách tiền tệ. Từ thực tế khách quan trên đòi hỏi phải có sự ra đời của một phương thức thanh toán khác tiên tiến hơn, hiện đại hơn đó là phương thức TTKDTM.TS Lê Thị Mận (2010), Thanh toán không dùng tiền mặt là cách thức thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ không có sự xuất hiện của tiền mặt mà được tiến hành bằng cách trích tiền từ tài khoản của người chi trả chuyển vào tài khoản của người thụ hưởng hoặc bằng cách bù trừ lẫn nhau thông qua vai trò trung gian của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt Theo Mai Thị Quỳnh Như (2014), Thanh toán không dùng tiền mặtra đời làm giảm được khối lượng tiền mặt trong lưu thông, tiết giảm được chi phí trong khâu in ấn tiền, bảo quản, vận chuyển tiền, giảm được chi phí lao động xã hội.
Nâng cao hiệu quả thanh toán trong nền kinh tế, góp phần tăng tốc độ luân chuyển vốn của xã hội, thúc đẩy phát triển sản xuất lưu thông hàng hóa và lưu thông tiền tệ. Đặc biệt là góp phần rất quan trọng vào công tác phòng, chống rửa tiền đang ngày càng nhức nhối hiện nay. Thực vậy, hiện nay, hệ thống Ngân hàng phát triển mạnh, TTKDTM ngày càng mở rộng cả về quy mô và phạm vi, tạo khả năng cho công tác TTKDTM được phát triển mạnh mẽ. Cụ thể: * Phục vụ cho sản xuất lưu thông hàng hóa không ngừng phát triển Mục tiêu của sản xuất hàng hóa là sản xuất ra sản phẩm để bán - tiêu thụ.
Qua khâu tiêu thụ các doanh nghiệp sẽ thu hồi lại vốn để tiếp tục chu kỳ sản xuất 6 z tiếp theo, quá trình đó được thực hiện thông qua khâu thanh toán. Như vậy khâu thanh toán có vị trí hết sức quan trọng trong quá trình tổ chức sản xuất và tiêu thụ hàng hóa.Do vậy nếu tổ chức công tác thanh toán nhanh chóng an toàn và chuẩn xác sẽ tạo điều kiện rút ngắn chu kỳ sản xuất, tăng nhanh tốc độ chu chuyển vốn và góp phần thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế quốc dân. * Góp phần ổn định lưu thông tiền tệ, giảm chi phí lưu thông xã hội Công tác TTKDTM gắn liền với công tác kế hoạch hóa lưu thông tiền tệ. Thực hiện tốt công tác TTKDTM tức là tăng nhanh tỷ trọng TTKDTM trong chu chuyển tiền tệ, sẽ làm giảm lượng tiền mặt trong lưu thông, giảm được các chi phí cần thiết phục vụ cho lưu thông tiền mặt, tác động trực tiếp đến thị trường giá cả, kiềm chế lạm phát tiến tới ổn định tiền tệ.
Mặt khác, TTKDTM còn tạo ra sự chuyển hóa thông suất giữa tiền mặt và tiền chuyển khoản. Cả hai khía cạnh đó đều tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kế hoạch hóa và điều hòa lưu thông tiền tệ. Chu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế bao gồm hai bộ phận cấu thành đó là thanh toán bằng tiền mặt và TTKDTM. Nếu tổng chu chuyển tiền tệ không đổi mà tỷ trọng TTKDTM tăng lên sẽ làm giảm tỷ trọng tiền mặt một cách tương ứng, từ đó giảm chi phí lưu thông như: chi phí in ấn, vận chuyển, bảo quản tiền, chi phí về thời gian thanh toán.
* Góp phần tăng nguồn vốn cho ngân hàng thương mại TTKDTM giúp cho Ngân hàng huy động được tối đa nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế để tiến hành đầu tư, cho vay phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế. Để tham gia công tác TTKDTM các đơn vị , các nhân mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại Ngân hàng, trên mỗi tài khoản tiền gửi đó có số lãi thấp, hơn nữa việc tiến hành thanh toán chi trả phông phải là thường xuyên. Do đó Ngân hàng có thể sử dụng nguồn vốn này để cho vay đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế để thu lợi nhuận. Đây là nguồn vốn lớn, nếu có kế hoạch sử dụng tốt sẽ mang lại hiệu quả kinh tế lớn cho toàn bộ nền kinh tế.
Như vậy, TTKDTM có những vai trò trực tiếp cũng như gián tiếp ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế. Việt Nam thực hiện tốt công tác TTKDTM sẽ tạo điều kiện 7 z thuận lợi cho từng thành viên trong nền kinh tế đạt được hiệu quả cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh và thúc đẩy nền kinh tế ngày càng phát triển. Các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt của Ngân hàng thương mại Theo Nghị định 80/2016/NĐ-CP (NĐ 80) sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 của Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt,các phương thức TTKDTM bao gồm như sau : 1.Thanh toán bằng séc a.