Tổng quan nghiên cứu

Trong quản trị tài chính công, việc điều tiết nguồn thu và phân bổ cơ cấu chi ngân sách nhà nước luôn là bài toán trọng tâm quyết định sự ổn định kinh tế vĩ mô. Theo các báo cáo thống kê tài khóa, thuế giá trị gia tăng (VAT) đóng vai trò là trụ cột nguồn thu ổn định, chiếm tới 27,5% tổng thu ngân sách nhà nước tại Việt Nam năm 2015 khi tổng thu đạt 989,69 nghìn tỷ đồng (vượt 8,6% so với dự toán). Tuy nhiên, áp lực chi tiêu công liên tục gia tăng với tổng chi năm 2015 lên tới 1.263 nghìn tỷ đồng (vượt 10,1% dự toán), đẩy mức bội chi ngân sách lên 266 nghìn tỷ đồng, vượt ngưỡng trần 5% GDP. Đáng chú ý, cơ cấu chi đang chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ của chi thường xuyên (tăng từ 704,16 nghìn tỷ đồng năm 2013 lên 790,16 nghìn tỷ đồng năm 2015), trong khi chi đầu tư phát triển năm 2014 lại sụt giảm 23,5% so với năm 2013.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là liệu việc mở rộng nguồn thu từ thuế giá trị gia tăng có thực sự thúc đẩy đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng hay chỉ làm phình to quy mô chi tiêu hành chính thường xuyên. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng của tác giả Trương Hoàng Phúc (người hướng dẫn khoa học: PGS. Nguyễn Ngọc Hùng, Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh) tập trung giải quyết hai mục tiêu chính: đánh giá định lượng tác động của thuế giá trị gia tăng đến quy mô chi thường xuyên và quy mô chi đầu tư phát triển trên GDP trong cả ngắn hạn lẫn dài hạn. Nghiên cứu thực hiện phân tích chuỗi thời gian kéo dài 44 năm (giai đoạn 1972 – 2015) trên 3 quốc gia đại diện cho hai nhóm phát triển và đang phát triển: Cộng hòa Áo (thuế suất VAT 20%), Cộng hòa Chile (thuế suất VAT 19%) và Cộng hòa Dominica (thuế suất VAT 16%). Kết quả cung cấp bằng chứng thực nghiệm quan trọng hỗ trợ công tác cải cách chính sách thuế và tái cơ cấu chi tiêu công bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng nền tảng dựa trên hai nhánh lý thuyết kinh tế công điển hình:

  • Lý thuyết công dân và quy luật Wagner (1893): Nhấn mạnh sự phát triển kinh tế và gia tăng thu nhập bình quân đầu người tất yếu đòi hỏi mở rộng khu vực công. Mở rộng quan điểm này, mô hình Meltzer và Richard (1983) lý giải rằng cử tri có thu nhập dưới mức trung bình sẽ ủng hộ mức thuế suất cao hơn để mở rộng chi tiêu công và tái phân phối của chính phủ. Từ đó, giả thuyết thứ nhất được xác lập: Thuế giá trị gia tăng tác động cùng chiều đến tỷ lệ chi thường xuyên trên GDP.
  • Lý thuyết lựa chọn công (Public Choice Theory): Được phát triển bởi James Buchanan (Nobel Kinh tế 1986), lý thuyết chỉ ra các chủ thể trong bộ máy công quyền thường bị chi phối bởi lợi ích cá nhân và áp lực hành chính hơn là phúc lợi tối ưu xã hội. Khi nguồn thu thuế gián thu tăng lên, ngân sách dễ bị chuyển hướng phục vụ chi tiêu nội bộ bộ máy thay vì tích lũy cho hạ tầng. Từ đó, giả thuyết thứ hai được đề xuất: Thuế giá trị gia tăng có xu hướng làm giảm tỷ lệ chi đầu tư phát triển trên GDP.

Khung phân tích vận hành dựa trên 4 khái niệm cốt lõi: Thuế gián thu (đại diện bằng thuế giá trị gia tăng LVAT), Chi thường xuyên (LCG), Chi đầu tư phát triển (LDG), và Tổng sản phẩm nội địa (GDP). Hai hàm hồi quy chuẩn hóa được thiết lập:

$$\ln(LCG) = f(\ln(LVAT))$$

$$\ln(LDG) = f(\ln(LVAT))$$

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thu thập dữ liệu thứ cấp chuẩn hóa từ Ngân hàng Thế giới (World Bank) với tổng cộng 132 quan sát trải dài 44 năm liên tục từ 1972 đến 2015 cho cả 3 quốc gia. Kích thước mẫu chuỗi thời gian đảm bảo độ tin cậy và khắc phục hạn chế dữ liệu ngắn hạn của các nghiên cứu trước.

Để xử lý chuỗi dữ liệu hỗn hợp bậc dừng, tác giả ứng dụng mô hình tự hồi quy phân phối trễ (Autoregressive Distributed Lag - ARDL) của Pesaran và cộng sự (1997) kết hợp mô hình hiệu chỉnh sai số (Error Correction Model - ECM). Phương pháp ARDL được ưu tiên lựa chọn do sở hữu nhiều ưu điểm vượt trội: không đòi hỏi các biến phải dừng cùng bậc $I(0)$ hay $I(1)$, khắc phục triệt để hiện tượng nội sinh và ước lượng đồng thời mối quan hệ ngắn hạn lẫn dài hạn. Quy trình kiểm định trải qua các bước chặt chẽ: kiểm định nghiệm đơn vị mở rộng ADF chọn độ trễ tối ưu theo tiêu chuẩn AIC (Akaike Information Criterion), kiểm định đường bao (Bound Test) xác định liên kết đồng liên kết, kiểm định khuyết tật mô hình gồm kiểm định tự tương quan Durbin-Watson và Breusch-Godfrey, kiểm định phương sai thay đổi Breusch-Pagan, kiểm định dạng sai Ramsey RESET, kiểm định đa cộng tuyến qua hệ số VIF (chấp nhận VIF dưới 10), và đánh giá độ ổn định tham số bằng biểu đồ CUSUM và CUSUMSQ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả ước lượng định lượng trên mẫu dữ liệu 44 năm đã phản ánh rõ nét tính quy luật của tác động thuế giá trị gia tăng lên cơ cấu chi tiêu công:

  • Tại Cộng hòa Chile: Kiểm định nghiệm đơn vị ADF xác nhận chuỗi biến dừng ở bậc $I(0)$ và $I(1)$. Kiểm định đường bao Bound Test cho thấy giá trị thống kê $F$ ở Mô hình 1 đạt 19,269 và Mô hình 2 đạt 29,202, vượt xa ngưỡng tới hạn 7,84 tại mức ý nghĩa 1%. Trong dài hạn và ngắn hạn, thuế VAT tác động cùng chiều mạnh mẽ đến chi thường xuyên với hệ số $R^2$ hiệu chỉnh đạt 53%, đồng thời tác động nghịch chiều có ý nghĩa thống kê đến chi đầu tư phát triển với hệ số $R^2$ hiệu chỉnh lên tới 71%.
  • Tại Cộng hòa Áo: Biến số dừng đồng nhất ở bậc $I(0)$. Giá trị $F$ kiểm định Bound Test Mô hình 1 đạt 4,859 (vượt ngưỡng 4,78 ở mức ý nghĩa 10%), chứng minh mối quan hệ đồng liên kết dài hạn giữa VAT và chi thường xuyên. Tăng thuế VAT kích thích trực tiếp sự gia tăng của quy mô chi thường xuyên trong cả ngắn hạn lẫn dài hạn. Ở Mô hình 2, giá trị $F$ đạt 2,773 cho thấy chưa đủ bằng chứng đồng liên kết dài hạn nhưng xu hướng tác động ngắn hạn vẫn mang dấu âm.
  • Tại Cộng hòa Dominica: Kiểm định Bound Test Mô hình 1 đạt giá trị $F = 16,883$ (mức ý nghĩa 1%) và Mô hình 2 đạt $F = 5,074$ (mức ý nghĩa 10%). Tác động của thuế VAT đến chi đầu tư phát triển ghi nhận hệ số âm có ý nghĩa thống kê rất cao trong cả ngắn hạn và dài hạn, khẳng định hiện tượng thuế VAT tăng làm suy giảm tỷ lệ tích lũy vốn đầu tư công so với GDP.
Quốc gia Thuế suất VAT Kiểm định Bound Test Mô hình 1 (Chi thường xuyên) Tác động dài hạn đến Chi thường xuyên Kiểm định Bound Test Mô hình 2 (Chi đầu tư) Tác động dài hạn đến Chi đầu tư
Chile 19% $F = 19,269^{***}$ Cùng chiều (+) có ý nghĩa $F = 29,202^{***}$ Ngược chiều (-) có ý nghĩa
Áo 20% $F = 4,859^{*}$ Cùng chiều (+) có ý nghĩa $F = 2,773$ Ngược chiều (-) không ý nghĩa
Dominica 16% $F = 16,883^{***}$ Cùng chiều (+) không ý nghĩa $F = 5,074^{*}$ Ngược chiều (-) có ý nghĩa

Ghi chú: $^{}$ ý nghĩa 1%, $^{}$ ý nghĩa 10%.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện thực nghiệm mang lại hàm ý sâu sắc khi giải thích động thái tài khóa giữa nguồn thu gián thu và các khoản chi tiêu công. Việc thuế VAT tác động cùng chiều đến chi thường xuyên tại Chile và Áo hoàn toàn phù hợp với lý thuyết tái phân phối của Meltzer - Richard và các kết quả nghiên cứu trước đây của J. Stockfisch (1985) trên 24 quốc gia OECD. Do chi thường xuyên bao gồm lương cán bộ, vận hành dịch vụ công, giáo dục và y tế gắn chặt với nhu cầu tiêu dùng công, nguồn thu tăng giúp đáp ứng ngay áp lực mở rộng phúc lợi xã hội.

Ngược lại, phát hiện về tác động nghịch chiều giữa thuế giá trị gia tăng và quy mô chi đầu tư phát triển tại Chile và Dominica là một minh chứng thực nghiệm điển hình cho lý thuyết Lựa chọn công của James Buchanan (1976). Khi nguồn thu thuế tăng lên, các nhà lập pháp và quản lý công có xu hướng ưu tiên phân bổ ngân sách để giải quyết các áp lực ngắn hạn của bộ máy hành chính thay vì các dự án đầu tư phát triển dài hạn vốn đòi hỏi nhiều thời gian giải ngân và chịu rủi ro giám sát. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Mohammad Alizadeh (2016) tại Iran, chỉ ra rằng việc tăng thuế VAT nếu thiếu cơ chế kiểm soát chặt chẽ sẽ vô tình thu hẹp tỷ trọng chi cho tích lũy tư bản công.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các kết quả phân tích định lượng, đề tài đưa ra 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm tối ưu hóa chính sách thuế và quản lý ngân sách nhà nước:

  • Kiểm soát chặt chẽ định mức chi thường xuyên và tinh giản bộ máy hành chính: Bộ Tài chính và Bộ Nội vụ cần phối hợp thực hiện lộ trình tái cơ cấu chi thường xuyên trong giai đoạn 2026 – 2030, đưa tỷ lệ dân số hưởng lương từ ngân sách giảm từ mức khoảng 8,3% hiện nay về mức mục tiêu 4,5% – 5,0%, tương tự các quốc gia phát triển, nhằm ngăn chặn tình trạng nguồn thu mới bị hấp thụ hoàn toàn bởi chi tiêu hành chính.
  • Ràng buộc pháp lý về việc phân bổ nguồn thu thuế VAT cho chi đầu tư phát triển: Quốc hội và Chính phủ cần ban hành quy chế phân bổ tài khóa quy định cố định tối thiểu 35% – 40% số tăng thu hàng năm từ thuế giá trị gia tăng phải được chuyển trực tiếp vào quỹ đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật và y tế, giáo dục chuyên sâu, hoàn thành mục tiêu giải ngân trước năm 2028.
  • Hiện đại hóa hệ thống quản lý thuế và số hóa hóa đơn điện tử tự động: Tổng cục Thuế cần đẩy mạnh áp dụng hệ thống báo cáo thuế tự động dựa trên dữ liệu hóa đơn điện tử toàn trình, hướng tới mục tiêu giảm 25% chi phí tuân thủ thuế cho doanh nghiệp và đảm bảo tính minh bạch 100% dòng tiền thuế gián thu vào năm 2027.
  • Hoàn thiện công tác lập kế hoạch tài chính - ngân sách trung hạn 3 - 5 năm: Cơ quan lập dự toán ngân sách cần áp dụng mô hình dự báo kinh tế lượng động, khống chế tỷ lệ sai lệch giữa số chi thực tế và dự toán ngân sách hàng năm dưới ngưỡng 3,0%, khắc phục triệt để tình trạng vượt chi trên 10% như giai đoạn trước.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và khung phương pháp của công trình nghiên cứu mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cơ quan hoạch định chính sách tài khóa và quản lý thuế: Cung cấp bằng chứng thực nghiệm để cân nhắc tác động lan tỏa trước khi ban hành các quyết định điều chỉnh khung thuế suất giá trị gia tăng và cơ cấu lại chi tiêu công.
  • Chuyên viên phân tích kinh tế vĩ mô và tư vấn tài chính công: Ứng dụng mô hình ARDL và ECM để lượng hóa mối liên hệ giữa các sắc thuế gián thu với sự biến động của chu kỳ chi tiêu ngân sách tại các thị trường mới nổi.
  • Học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng: Sử dụng làm tài liệu tham khảo chuẩn mực về cấu trúc luận văn kinh tế lượng, quy trình xử lý chuỗi thời gian đa quốc gia và cách diễn giải các kiểm định khuyết tật mô hình.
  • Giảng viên và các viện nghiên cứu kinh tế: Bổ sung tư liệu giảng dạy cho các học phần Kinh tế công cộng, Quản lý tài chính công và Kinh tế lượng ứng dụng.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao nghiên cứu lại chọn thuế giá trị gia tăng (thuế gián thu) thay vì thuế trực thu? Thuế trực thu đánh trực tiếp vào thu nhập và tài sản của doanh nghiệp, tạo động cơ né thuế khiến số thu khó phản ánh chính xác quy mô nền kinh tế. Ngược lại, thuế giá trị gia tăng đánh vào người tiêu dùng cuối cùng, chiếm tỷ trọng cao (trên 27,5% tổng thu ngân sách) và có mối liên hệ trực tiếp với sức cầu chi tiêu của khu vực công.

2. Phương pháp ARDL có ưu thế gì vượt trội so với mô hình đồng liên kết Johansen truyền thống? Phương pháp ARDL của Pesaran (1997) không bắt buộc tất cả các biến phải dừng cùng bậc $I(1)$ mà có thể áp dụng cho biến dừng hỗn hợp ở $I(0)$ hoặc $I(1)$, đồng thời xử lý triệt để hiện tượng tự tương quan và cho kết quả vững với kích thước mẫu nhỏ dưới 100 quan sát.

3. Vì sao thuế giá trị gia tăng tăng lại có xu hướng làm giảm chi đầu tư phát triển? Theo lý thuyết Lựa chọn công của James Buchanan (1976), bộ máy chính phủ có xu hướng mở rộng chi tiêu thường xuyên để phục vụ vận hành nội bộ và tiền lương trước các áp lực ngắn hạn, từ đó tạo ra hiện tượng chèn lấn và thu hẹp nguồn lực dành cho các dự án chi đầu tư phát triển dài hạn.

4. Tại sao dữ liệu nghiên cứu không áp dụng trực tiếp cho chuỗi thời gian của Việt Nam? Chuỗi số liệu thống kê chuẩn hóa về tỷ lệ thuế giá trị gia tăng và phân rã chi thường xuyên/chi đầu tư của Việt Nam trong giai đoạn 1972 – 2015 chưa đạt đủ ngưỡng tối thiểu 30 quan sát liên tục theo tiêu chuẩn World Bank, do đó việc chọn 3 quốc gia có mức thuế tương đồng giúp đảm bảo độ tin cậy kinh tế lượng.

5. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa gì đối với đề xuất điều chỉnh thuế suất VAT? Kết quả cảnh báo rằng việc tăng thuế suất VAT từ 10% lên 12% sẽ không tự động làm tăng đầu tư cơ sở hạ tầng nếu thiếu cơ chế kiểm soát chặt chẽ chi thường xuyên, đồng thời đòi hỏi chính sách tài khóa phải đi kèm giải pháp bảo đảm an sinh xã hội cho người có thu nhập thấp.

Kết luận

  • Công trình đã chứng minh định lượng mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa thuế giá trị gia tăng với quy mô chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển trên chuỗi dữ liệu 44 năm tại 3 quốc gia đại diện.
  • Xác nhận tính đúng đắn của quy luật Wagner và mô hình Meltzer - Richard: gia tăng thuế VAT thúc đẩy mở rộng quy mô chi thường xuyên nhằm đáp ứng nhu cầu quản lý nhà nước và phúc lợi xã hội.
  • Cung cấp bằng chứng thực nghiệm ủng hộ lý thuyết Lựa chọn công của Buchanan khi chỉ ra thuế VAT có tác động nghịch chiều đến tỷ lệ chi đầu tư phát triển, đòi hỏi phải tái cơ cấu chi tiêu công.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng phân tích dữ liệu bảng (Panel Data) cho toàn bộ khối ASEAN và tích hợp thêm các yếu tố thể chế tài khóa giai đoạn sau năm 2026.
  • Độc giả, các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý có thể tải toàn văn luận văn thạc sĩ để khai thác chi tiết bộ dữ liệu và các kiểm định kinh tế lượng chuyên sâu.