Tác động của thuế giá trị gia tăng đến quy mô chi thường xuyên và đầu tư phát triển

Luận văn thạc sĩ phân tích ueh ảnh hưởng của thuế giá trị gia tăng đến quy mô chi thường xuyên và quy mô chi đầu tư phát triển, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Kinh Tế

2017

88
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU

1.1. Bối cảnh nghiên cứu

1.2. Lý do nghiên cứu

1.3. Mục tiêu nghiên cứu

1.4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi dữ liệu

1.5. Phương pháp nghiên cứu

1.6. Những điểm mới của đề tài

1.7. Cấu trúc của đề tài

2. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

2.1. Tổng quan lý thuyết

2.2. Các nghiên cứu trước đây liên quan đến đề tài

2.3. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

3.1. Phương pháp nghiên cứu

3.2. Mô hình nghiên cứu

3.3. Dữ liệu nghiên cứu

3.4. Kết luận chương 3

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Kiểm định tính dừng

4.2. Kiểm định đường bao (Bound test)

4.3. Kết quả tác động trong dài hạn

4.4. Kết quả tác động ngắn hạn

4.5. Kiểm định mô hình

4.6. Tổng hợp kết quả nghiên cứu

4.7. Kết luận chương 4

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

5.1. Những đóng góp mới của đề tài

5.2. Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về tác động của thuế giá trị gia tăng đến chi thường xuyên và đầu tư phát triển

Thuế giá trị gia tăng (VAT) là một trong những nguồn thu ngân sách quan trọng của nhà nước. Tác động của thuế này đến chi thường xuyên và đầu tư phát triển là một vấn đề cần được nghiên cứu kỹ lưỡng. Việc hiểu rõ mối quan hệ này sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách có những quyết định đúng đắn hơn trong việc quản lý ngân sách.

1.1. Khái niệm và vai trò của thuế giá trị gia tăng

Thuế giá trị gia tăng là loại thuế gián thu đánh vào giá trị gia tăng của hàng hóa và dịch vụ. Nó đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra nguồn thu cho ngân sách nhà nước, đồng thời ảnh hưởng đến chi tiêu của chính phủ.

1.2. Mối liên hệ giữa thuế giá trị gia tăng và chi ngân sách

Mối liên hệ giữa thuế giá trị gia tăng và chi ngân sách thể hiện qua việc tăng thu ngân sách từ thuế này có thể dẫn đến tăng chi cho các hoạt động thường xuyên và đầu tư phát triển.

II. Vấn đề và thách thức trong việc áp dụng thuế giá trị gia tăng

Việc áp dụng thuế giá trị gia tăng không chỉ đơn thuần là tăng nguồn thu cho ngân sách mà còn đặt ra nhiều thách thức cho chính phủ. Các vấn đề như sự công bằng trong thuế, tác động đến người tiêu dùng và doanh nghiệp cần được xem xét.

2.1. Tác động đến người tiêu dùng

Tăng thuế giá trị gia tăng có thể làm tăng giá cả hàng hóa, ảnh hưởng đến sức mua của người tiêu dùng, đặc biệt là những người có thu nhập thấp.

2.2. Tác động đến doanh nghiệp

Doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong việc điều chỉnh giá cả và chi phí sản xuất khi thuế giá trị gia tăng tăng lên, từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận và khả năng đầu tư.

III. Phương pháp nghiên cứu tác động của thuế giá trị gia tăng

Để nghiên cứu tác động của thuế giá trị gia tăng đến chi thường xuyên và đầu tư phát triển, cần áp dụng các phương pháp phân tích định lượng và định tính. Việc sử dụng mô hình ARDL và ECM sẽ giúp đánh giá chính xác hơn mối quan hệ này.

3.1. Mô hình ARDL trong nghiên cứu

Mô hình ARDL cho phép phân tích mối quan hệ giữa các biến trong ngắn hạn và dài hạn, từ đó đưa ra những kết luận chính xác về tác động của thuế giá trị gia tăng.

3.2. Mô hình hiệu chỉnh sai số ECM

Mô hình ECM giúp điều chỉnh các sai lệch trong ngắn hạn, đảm bảo rằng các biến sẽ trở về trạng thái cân bằng trong dài hạn.

IV. Kết quả nghiên cứu về tác động của thuế giá trị gia tăng

Kết quả nghiên cứu cho thấy thuế giá trị gia tăng có tác động tích cực đến chi thường xuyên và đầu tư phát triển. Việc tăng thuế này không chỉ giúp tăng nguồn thu ngân sách mà còn thúc đẩy các hoạt động đầu tư của chính phủ.

4.1. Tác động đến chi thường xuyên

Tăng thuế giá trị gia tăng dẫn đến tăng nguồn thu cho ngân sách, từ đó chính phủ có thể tăng chi cho các hoạt động thường xuyên như giáo dục, y tế.

4.2. Tác động đến đầu tư phát triển

Việc tăng thuế giá trị gia tăng cũng tạo điều kiện cho chính phủ có thêm nguồn lực để đầu tư vào cơ sở hạ tầng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

V. Kết luận và khuyến nghị cho chính sách thuế giá trị gia tăng

Nghiên cứu cho thấy thuế giá trị gia tăng có tác động lớn đến chi thường xuyên và đầu tư phát triển. Chính phủ cần cân nhắc kỹ lưỡng khi điều chỉnh thuế này để đảm bảo sự công bằng và hiệu quả trong quản lý ngân sách.

5.1. Khuyến nghị về chính sách thuế

Cần có các chính sách điều chỉnh thuế giá trị gia tăng hợp lý để đảm bảo nguồn thu ngân sách mà không làm ảnh hưởng đến người tiêu dùng và doanh nghiệp.

5.2. Hướng đi cho nghiên cứu tiếp theo

Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về tác động của thuế giá trị gia tăng đến các lĩnh vực khác trong nền kinh tế để có cái nhìn toàn diện hơn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

24/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh ảnh hưởng của thuế giá trị gia tăng đến quy mô chi thường xuyên và quy mô chi đầu tư phát triển

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu. Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu liên quan đến đề tài. Chương 3: Phương pháp và mô hình nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và khuyến nghị.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Tổng quan lý thuyết 2. Lý thuyết công dân: Một trong những lý thuyết tăng trưởng của chính phủ lâu đời nhất là lý thuyết tăng trưởng của Wagner nhấn mạnh tăng trưởng kinh tế là yếu tố quyết định cơ bản đến tăng trưởng khu vực công. Ông đã phân tích số liệu chi tiêu của một số nước phát triển và cho rằng tỷ trọng khu vực công trong GDP có xu hướng tăng lên. Các kết quả thu được từ nghiên cứu của Wagner như sau: Đầu tiên, ông nhận thấy rằng tăng trưởng kinh tế đòi hỏi phải có cơ sở hạ tầng phù hợp.

Thứ hai, việc phát triển đô thị hóa đòi hỏi phải tăng chi tiêu của chính phủ. Cuối cùng, ông kết luận rằng tăng trưởng khu vực công sẽ lớn hơn khi thu nhập bình quân đầu người thực tế tăng lên. Có thể thấy lý thuyết của Wagner giải thích chính xác sự tăng trưởng của chính phủ. Bên cạnh đó, lý thuyết của Meltzer và Richard (1983) xem xét quy mô chính phủ theo một khía cạnh khác trên quan điểm chính phủ chủ yếu tập trung vào việc phân bổ tài sản và thu nhập một cách công bằng.

Tác giả sử dụng tỷ lệ thu nhập được phân phối lại bởi chính phủ, bao gồm tiền mặt và dịch vụ, như là thước đo về quy mô của chính phủ. Lý thuyết của Meltzer khác với các lý thuyết trước ở các điểm: Thứ nhất, người dân không bị "ảo tưởng về ngân sách". Họ biết rằng chính phủ phải sử dụng các nguồn lực để trả cho tái phân phối. Thứ hai, tác giả tập trung vào nhu cầu phân phối lại và bỏ qua các hàng hoá công cộng do chính phủ cung cấp (Peltzman 1979).

Thứ ba, tác giả trở lại với truyền thống trước đây của Tocqueville (1835, 1965), trong đó đo lường quy mô của chính phủ bằng thuế và chi tiêu, với hai yếu tố: sự mở rộng của nhượng quyền thương mại và sự phân phối thu nhập. Lý thuyết của Meltzer hàm ý rằng quy mô của chính phủ phụ thuộc vào mối quan hệ giữa thu nhập trung bình với thu nhập của cử tri quyết định. Với quyền bầu cử phổ thông và đa số, cử tri trung gian là cử tri quyết định như Roberts (1977) đã đưa ra LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 trong một phần mở rộng tác phẩm nổi tiếng của Hotelling (1929) và Downs (1957). Các nghiên cứu về phân phối thu nhập cho thấy sự phân phối bị lệch về phía bên phải, do đó thu nhập nằm trên thu nhập trung bình.

Do đó những cử tri nào có thu nhập thấp hơn thu nhập trung bình sẽ khuyến khích việc tái phân phối lại thu nhập để đảm bảo cân bằng thông qua một thuế suất cao hơn. Ngoài ra việc mở rộng nhượng quyền thương mại đối với nhiều cử tri có thu nhập dưới mức trung bình có nghĩa là tăng thu nhập để tái phân phối, và do đó tăng quy mô chính phủ. Vì vậy với một mức thuế suất cao hơn, vừa làm tăng chi tiêu cho khu vực công. Từ đó tác giả đưa ra giả thuyết thứ 1: Thuế giá trị gia tăng làm tăng tỷ lệ chi thường xuyên của Chính phủ so với GDP.

Lý thuyết lựa chọn công: các lý thuyết này tập trung vào các ưu đãi của chính phủ hơn là công dân Lý thuyết lựa chọn công: Buchanan (1976) là cha đẻ của lý thuyết lựa chọn công đã đạt giải Nobel kinh tế năm 1986. Các nhà kinh tế học nghiên cứu hành vi trên thị trường tư nhân cho rằng người ta chủ yếu tập trung vào lợi ích cá nhân., động cơ chiếm ưu thế trong hành động của người dân trên thị trường - dù là người sử dụng lao động, người lao động, hay người tiêu dùng – đều là lợi ích cá nhân. Tương tự như vậy, các nhà kinh tế học về sự lựa chọn công cũng đưa ra giả thuyết tương tự, động cơ chính của những người hoạt động trên thị trường chính trị, dù là cử tri, chính trị gia, hay quan chức. đều là lợi ích cá nhân.

Họ hy vọng làm lợi cho chính mình chứ chẳng bao giờ màng đến việc trở thành những nhà quản lý công cộng thánh thiện. Đây là cách tiếp cận mang tính hoài nghi song lại hữu ích nhất. Bunachan chỉ ra rằng, sự can thiệp của chính phủ vào nên kinh tế có hợp lý hay không phụ thuộc vào việc các quan chức bị thúc đẩy bởi lợi ích cá nhân hay bởi lợi ích xã hội. Trong quá khứ, nhiều nhà kinh tế đã lập luận rằng cách để kìm hãm "thất bại trên thị trường" như độc quyền là đưa ra hành động khắc phục của chính phủ.

Nhưng Buchanan chỉ ra rằng cũng có khái niệm về "thất bại của chính phủ". Đó là, có những lý do tại sao can thiệp của chính phủ không LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 đạt được hiệu quả mong muốn. Ví dụ, Bộ Tư pháp có trách nhiệm giảm quyền lực độc quyền trong các ngành công nghiệp phi cạnh tranh. Tuy nhiên, một nghiên cứu năm 1973 của William F.

Long, Richard Schramm và Robert Tollison đã kết luận rằng hành vi chống cạnh tranh thực sự chỉ đóng một vai trò nhỏ trong các quyết định của Bộ Tư pháp để chống độc quyền. Thay vào đó, họ tìm thấy, ngành công nghiệp càng lớn thì càng có nhiều doanh nghiệp bị kiện. Một trong những cơ sở chính của lý thuyết lựa chọn công là việc thiếu các công cụ, biện pháp để cử tri theo dõi chính phủ một cách hiệu quả. Anthony Downs, tác giả của một trong những cuốn sách viết về sự lựa chọn công sớm nhất “Lý thuyết Kinh tế về Dân chủ” đã chỉ ra rằng hầu như cử tri không biết đến các vấn đề chính trị.

Mặc dù kết quả của một cuộc bầu cử có thể rất quan trọng, tuy nhiên việc bỏ phiếu của một cá nhân hiếm khi có ảnh hưởng quyết định đến kết quả một cuộc bầu cử. Như vậy, tác động trực tiếp của việc bỏ phiếu là gần như bằng không, cử tri hầu như không có cơ hội để xác định kết quả của cuộc bầu cử. Bên cạnh đó, việc bỏ phiếu không có kết quả trực tiếp, do đó phần lớn cử tri không biết về vị trí của người dân mà họ bỏ phiếu. Ngoại trừ một vài vấn đề được công bố rộng rãi, cử tri gần như không chú ý nhiều đến những gì cơ quan lập pháp làm, và ngay cả khi họ chú ý, họ cũng ít có khả năng để có được kiến thức nền tảng và kỹ năng phân tích cần thiết để hiểu các vấn đề này.

Các nhà kinh tế học về sự lựa chọn công cộng cũng xem xét các hành động của các nhà lập pháp. Mặc dù các nhà lập pháp dự kiến sẽ theo đuổi "lợi ích công cộng" nhưng họ sẽ quyết định sử dụng các nguồn lực của người khác, chứ không phải là của riêng họ. Người nộp thuế là người phải cung cấp các nguồn lực này và sẽ là những những người bị thiệt hại khi các nguồn lực được sử dụng không hiệu quả theo các quy định cho dù họ có muốn hay không. Các chính trị gia có thể định chi tiền của người đóng thuế một cách khôn ngoan.

Tuy nhiên, các quyết định hiệu quả sẽ không tiết kiệm được tiền của chính họ cũng như không cung cấp cho họ bất kỳ nguồn thu nhập nào. Vì vậy, các ưu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 đãi đối với chính quyền để họ quản lý tốt trong lợi ích công cộng rất yếu, từ đó dễ dẫn đến đầu tư không hiệu quả. Lý thuyết lựa chọn công được coi là một nhánh kinh tế bảo thủ, cho rằng việc can thiệp của Chính phủ có thể không hiệu quả, trái ngược với lý thuyết của cha đẻ kinh tế học vĩ mô, John Maynard Keynes, khi Keynes cho rằng Chính phủ có thể sữa chữa các thất bại của thị trường một cách hiệu quả. Hơn nữa, Buchanan cho rằng nếu chi tiêu Chính phủ được thực hiện từ cấp địa phương thì sẽ hiệu quả hơn.

Người dân có thể giám sát việc chi tiêu của chính quyền địa phương hiệu quả, chính xác hơn. Họ cũng có thể gây áp lực đến chính quyền địa phương bằng cách “bỏ phiếu bằng chân”, tạo ra sự cạnh tranh giữa các địa phương, từ đó hiệu quả của việc chi tiêu được cải thiện, nâng cao đời sống người dân. Như vậy theo lý thuyết lựa chọn công, việc chi tiêu của Chính phủ có thể không hiệu quả do lợi ích cá nhân gây ra. Do đó tác giả đề xuất giả thuyết thứ 2: Thuế giá trị gia tăng làm giảm tỷ lệ chi đầu tư phát triển của Chính phủ so với GDP.

Các nghiên cứu trước đây liên quan đến đề tài Nghiên cứu của Mohammadiyan, F. (2013) đã nghiên cứu, giới thiệu và thử nghiệm mô hình mới để giải thích quy mô chính phủ. Bài nghiên cứu sử dụng các biến cầu, cung và các biến khác, trình bày một mô hình khái niệm và ước lượng thực nghiệm cho 103 quốc gia được chọn. Kết quả là thu nhập bình quân đầu người, bất bình đẳng và tỷ lệ đô thị hóa của các biến số cầu có ảnh hưởng lần lượt là ngược chiều, cùng chiều và cùng chiều và có ý nghĩa quan trọng đối với quy mô của chính phủ.

Đối với các biến số cung của nền kinh tế, các loại thuế gián thu có tác động cùng chiều và ảnh hưởng đáng kể đến quy mô của chính phủ. Trong các yếu tố khác (các yếu tố khác ngoài cung và cầu), ba biến tỷ lệ độ tuổi của dân số, mức độ mở của nền kinh tế và tỷ lệ về sự tham gia của phụ nữ vào thị trường lao động đều có tác động cùng chiều và có ý nghĩa đến quy mô của chính phủ. Tác giả thấy rằng kết quả của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 nghiên cứu này cũng phù hợp với lý thuyết tác giả xây dựng khi thuế gián thu có ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa đến quy mô chính phủ, hay cụ thể hơn là thuế gián thu sẽ có ảnh hưởng tích cực đến cả chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển. Nghiên cứu của J.Stockfisch (1985) về ảnh hưởng của thuế giá trị gia tăng đến chi tiêu chính phủ tại 24 quốc gia OECD trong giai đoạn 1964-1981 đã cho thấy những kết quả ủng hộ giả thuyết của tác giả đặt ra.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ