CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA THIÊN TAI ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 1. Khái niệm về thiên tai Theo quy định tại luật được sửa đổi và bổ sung một số điều của Luật phòng, chống thiên tai và đê điều năm 2020 có quy định như sau: Thiên tai là hiện tượng tự nhiên bất thường có thể gây thiệt hại về người, tài sản, môi trường, điều kiện sống và các hoạt động kinh tế – xã hội, bao gồm bão, áp thấp nhiệt đới, gió mạnh trên biển, lốc, sét, mưa lớn, lũ, lũ quét, ngập lụt; sạt lở đất, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy hoặc hạn hán; nước dâng, xâm nhập mặn, nắng nóng, hạn hán, cháy rừng do tự nhiên, rét hại, mưa đá, sương mù, sương muối, động đất, sóng thần và các loại thiên tai khác.” Đồng thời Luật phòng, chống thiên tai cũng có quy định về rủi ro thiên tai, phòng chống thiên tai, theo đó: Rủi ro thiên tai là thiệt hại mà thiên tai có thể gây ra về người, tài sản, môi trường, điều kiện sống và hoạt động kinh tế – xã hội. Phòng, chống thiên tai là quá trình mang tính hệ thống, bao gồm hoạt động phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai. Thực tế, có thể thấy những hậu quả mà thiên tai gây ra cho con người, tài sản, môi trường, điều kiện sống cũng như các hoạt động kinh tế – xã hội là rất lớn.
Chính vì vậy, việc phòng chống thiên tai được coi là một trong những hoạt động quan trọng Bên cạnh đó, theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều số 60/2020/QH14 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 17/6/2020, “Thiên tai là hiện tượng tự nhiên bất thường có thể gây thiệt hại về người, tài sản, môi trường, điều kiện sống và các hoạt động kinh tế - xã hội, bao gồm bão, áp thấp nhiệt đới, gió mạnh trên biển, lốc, sét, mưa lớn, lũ, lũ quét, ngập lụt; sạt lở đất, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy hoặc hạn hán; nước dâng, xâm nhập mặn, nắng nóng, hạn hán, cháy rừng do tự nhiên, rét hại, mưa đá, sương mù, sương muối, động đất, sóng thần và các loại thiên tai khác”. Một định nghĩa khác cũng được đưa ra bởi Trung tâm phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai: “Thiên tai (Natural disasters) là quá trình hay hiện tượng tự nhiên có thể gây chết người, thương tích hoặc các tác động khác tới sức khỏe, gây thiệt hại về tài sản, 5 sinh kế và các dịch vụ, làm gián đoạn các hoạt động kinh tế-xã hội, hoặc gây thiệt hại về môi trường”. Các hiện tượng tự nhiên được gọi là thiên tai gồm có: bão, áp thấp nhiệt đới, lũ, lũ quét, ngập lụt, mưa lớn, lốc, sét, sạt lở đất, nước dâng, động đất, sóng thần, hạn hán, nắng nóng, rét hại, mưa đá, sụt lún đất và xâm nhập mặn. Bên cạnh đó, theo Báo cáo IPCC năm 2012 thiên tai còn được định nghĩa như sau: “Thiên tai là các thay đổi nghiêm trọng trong chức năng bình thường của một cộng đồng hay một xã hội do các hiểm họa tự nhiên tương tác với các điều kiện dễ bị tổn thương của xã hội, dẫn đến các ảnh hưởng bất lợi rộng khắp đối với con người, vật chất, kinh tế hay môi trường, đòi hỏi phải ứng phó khẩn cấp để đáp ứng các nhu cầu cấp bách của con người và có thể phải cần đến sự hỗ trợ từ bên ngoài để phục hồi”.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chỉ đề cập đến ba loại thiên tai phổ biến ở Việt Nam là bão, lũ lụt và hạn hán. Và được định nghĩa như sau: Theo DMC (2018), “Bão là một xoáy thuận nhiệt đới có sức gió mạnh nhất từ cấp 8 trở lên và có thể có gió giật. Bão có sức gió mạnh nhất từ cấp 10 đến cấp 11 gọi là bão mạnh, từ cấp 12 đến cấp 15 gọi là bão rất mạnh, từ cấp 16 trở lên gọi là siêu bão”. Lũ được định nghĩa là “hiện tượng mực nước sông dâng cao trong khoảng thời gian nhất định, sau đó xuống”.
Và hạn hán được định nghĩa là “hiện tượng thiếu nước nghiêm trọng xảy ra trong thời gian dài do không có mưa và cạn kiệt nguồn nước”. Định nghĩa của những loại thiên tai khác cũng có thể tìm thấy trên Website của Trung tâm Chính sách và Kỹ thuật phòng chống thiên tai. Tương tự, một định nghĩa khác về thiên tai được đưa ra bởi Trung tâm nghiên cứu dịch tễ học về thiên tai như sau: Thiên tai là một sự kiện bất ngờ, phá hủy và gây ra những thiệt hại hoặc tổn thương lớn cho con người, phải cần đến sự trợ giúp ở cấp quốc gia hoặc quốc tế. Có 3 tiêu chí để xác định một sự kiện là thiên tai: (1) 10 người trở lên được báo cáo là bị thiệt mạng; (2) 100 người trở lên được báo cáo là bị ảnh hưởng; (3) Cần sự trợ giúp của quốc tế hoặc tình trạng khẩn cấp được công bố (CRED, 2013).
Mặc dù, có nhiều định nghĩa về thiên tai được đưa ra, tuy nhiên trong nghiên cứu này thiên tai được hiểu theo nghĩa duy nhất của Luật Phòng chống, thiên tai Việt Nam năm 2013. Những tác động do thiên tai Khi thiên tai xảy ra, nó sẽ gây ra những tác động nhất định đối với hoạt động kinh tế - xã hội, theo Pelling và cộng sự (2002), những tác động do thiên tai được chia làm hai loại là những tác động trực tiếp và những tác động gián tiếp: Tác động trực tiếp là những tác động tức thời của thiên tai gây ra, những biến số đại diện cho những tác động thức thời này là số người chết, số người bị ảnh hưởng, tài sản thiệt hại, số nhà cửa bị phá hủy và những tác động khác. Tác động gián tiếp là những ảnh hưởng của thiên tai đối với nền kinh tế sau một khoảng thời gian xảy ra. Tác động gián tiếp thường được đo lường thông qua các thông số như GDP, giá cả, thương mai, lao động, việc làm, tỷ giá và những biến số kinh tế khác.
Theo Cavallo và Noy (2011), tác động gián tiếp có thể chia làm hai loại là tác động ngắn hạn và tác động dài hàn. Theo Samuelson và Nordhaus (2009), dài hạn là khoảng thời gian mà mức giá, mức lương theo hợp đồng và kỳ vọng của người dân được điều chỉnh hoàn toàn để đưa nền kinh tế đến trạng thái cân bằng. Ngược lại, ngắn hạn là khoảng thời gian mà các yếu tố này không được điều chỉnh hay vẫn còn giữ cố định. Tăng trưởng kinh tế 1.
Khái niệm tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế là mục tiêu đầu tiên đối với các quốc gia, là thước đo chủ yếu về sự tiến bộ và phát triển trong mỗi giai đoạn của quốc gia. Là mục tiêu của hầu hết các chương trình, kế hoạch phát triển của quốc gia.Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về quy mô, sản lượng hay thu nhập của một nền kinh tế trong khoảng thời gian nhất định (thường là một năm). Trên thực tế, tăng trưởng kinh tế có thể diễn ra mà không có sự công bằng xã hội về phân phối thu nhập và chi tiêu, tức là chỉ có sự gia tăng về số lượng nhưng không có sự gia tăng về chất lượng nền kinh tế, về công bằng xã hội, đó không phải là mục đích của tăng trưởng. Mặc dù vậy, phạm trù công bằng xã hội lại khá mơ hồ và khó nắm bắt, với lý do đó, hiện tại để đo lường tăng trưởng kinh tế đi đôi với công bằng thông qua sản lượng thực tế tổng sản phẩm quốc nội (GDP)/ người, tổng sản phẩm quốc dân (GNP)/ người.
Để đạt được sự tăng trưởng kinh tế ở mức cao thì cần có sự phối hợp đồng bộ giữa chính sách vĩ mô và vi mô, kết hợp nhân tố khách quan và chủ quan, vận dụng các quy luật kinh tế và sử dụng các đòn bẩy kinh tế như thuế, trợ cấp, tiền tệ, lãi 7 suất, việc làm.v…Tăng trưởng kinh tế là vấn đề cực kỳ quan trọng, liên quan đến sự thịnh suy của một quốc gia. Bởi thế, chính phủ nào cũng ưu tiên các nguồn lực của mình cho sự tăng trưởng kinh tế, coi đó là nguồn gốc, là nền tảng giải quyết mọi vấn đề về kinh tế xã hội. Các yếu tố giải thích cho tăng trưởng kinh tế: Theo mô hình tăng trưởng kinh tế của Solow (1956), tăng trưởng dài hạn của một quốc gia phụ thuộc vào sự đổi mới công nghệ (A), sự gia tăng lao động (L) và sự gia tăng nguồn vốn (K). Ngoài ba yếu tố trên thì tỷ lệ tiết kiệm (s) và khấu hao (6) cũng là yếu tố quyết định trạng thái cân bằng của mô hình.
Mô hình Solow (1956) gia đình là năng suất tiên của vốn trên mỗi lao động là giảm dần và công nghệ là yếu tố cho trước hay là yếu tố ngoại sinh. Do đó, mô hình tăng trưởng kinh tế của Solow được gọi là mô hình tăng trưởng ngoại sinh. Nếu các yếu tố khác là không đổi, khi tăng tỷ lệ tiết kiệm sẽ dẫn đến tăng tốc độ tăng trưởng trong ngắn hạn. Nếu quốc gia đó vẫn duy trì tỷ lệ tiết kiệm cao thì trong dài hạn, tốc độ tăng trưởng sẽ không tăng.
Cũng từ những gia đình trên, mô hình Solow dự đoán các quốc gia nghèo hơn sẽ tăng trưởng nhanh hơn các nước giàu và có sự hội tụ về mức sống giữa các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, với những bằng chứng thực nghiệm chứng tỏ không có sự hội tụ hay chi hội tụ có điều kiện của các quốc gia trên thế giới. Theo Maddison (2001), thu nhập của những nước giàu nhất gấp 10 lần thu nhập của những nước nghèo nhất vào năm 1950. Đến năm 1988, chênh lệch thu nhập này đã tăng thành 19 lần.
Do thiếu bằng chứng về sự hội tụ nên dẫn đến nhu cầu tìm kiếm một mô hình thay thế cho mô hình tăng trưởng của Solow và giải thích sự không hội tụ này. Mô hình tăng trưởng nội sinh được phát triển bởi Mankiw và cộng sự (1992) đáp ứng được nhu cầu trên. Khác với mô hình tăng trưởng ngoại sinh của Solow, mô hình tăng trưởng nội sinh xem tiến bộ công nghệ là biến nội sinh hay tiến bộ công nghệ được giải thích bằng các biến bên trong mô hình. Một điểm mới nữa trong mô hình tăng trưởng của Mankiw và cộng sự (1992) là việc đưa thêm yếu tố vốn con người (Human capital) vào trong mô hình.
Vốn con người đại diện cho chất lượng của lao động thay vì chỉ có số lượng lao động như mô hình Solow.