Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, thương mại ngoại thương đóng vai trò thiết lập cầu nối giữa các nền kinh tế, khai thác lợi thế so sánh và bù đắp các mặt hàng mà sản xuất nội địa chưa đáp ứng đủ. Tại Việt Nam, quá trình tăng trưởng kinh tế và nâng cao thu nhập của người dân đã thúc đẩy nhu cầu sở hữu xe ô tô từ các dòng bình dân đến các thương hiệu cao cấp. Sự gia nhập mạnh mẽ của ô tô mới nguyên chiếc (Completely Built-Up - CBU) tạo sức ép cạnh tranh gay gắt lên ngành sản xuất, lắp ráp ô tô nội địa vốn còn non trẻ. Nhằm điều tiết cán cân thương mại, kiểm soát lưu lượng phương tiện phù hợp với cơ sở hạ tầng giao thông và tạo nguồn thu ngân sách, Nhà nước đã sử dụng thuế quan làm công cụ quản lý then chốt. Đề tài khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thị Thảo (Khoa Kinh doanh Quốc tế, Học viện Ngân hàng, năm 2018) được xây dựng trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn thực thi các cam kết tự do hóa thương mại sâu rộng, đặc biệt là lộ trình cắt giảm thuế nhập khẩu xe ô tô CBU theo Hiệp định ATIGA về 0% vào năm 2018.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về thuế quan nói chung cũng như thuế quan áp dụng lên mặt hàng ô tô nhập khẩu mới nguyên chiếc.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng thay đổi của chính sách thuế quan và định lượng các tác động của chính sách này lên thị trường ô tô nhập khẩu CBU tại Việt Nam qua các giai đoạn.
  3. Đánh giá xu hướng thị trường ô tô Việt Nam và đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống thuế quan, kết hợp khuyến nghị đối với doanh nghiệp nhập khẩu nhằm thích ứng với bối cảnh mới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Chính sách thuế quan của Việt Nam áp dụng đối với mặt hàng ô tô mới nguyên chiếc nhập khẩu.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn phân tích trọng tâm từ năm 2006 đến năm 2017, kết hợp dữ liệu thống kê từ năm 2005 và các mốc cam kết đến năm 2018.
  • Phạm vi không gian: Thị trường nhập khẩu ô tô mới nguyên chiếc tại Việt Nam trong mối tương quan với các nguồn cung cấp khu vực và thế giới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận thiết lập nền tảng lý luận dựa trên các khái niệm kinh tế học và tài chính công:

  • Khái niệm và công cụ thuế quan: Tiếp cận định nghĩa cổ điển của Gaston Jèze trong tác phẩm "Tài chính công" và khung phân loại theo bách khoa toàn thư mở. Hệ thống hóa các khái niệm sắc thuế, biểu thuế quan, hàng rào thuế quan và phi thuế quan. Phân tích chi tiết các loại thuế cấu thành giá lăn bánh của ô tô CBU: thuế nhập khẩu (quản lý bởi cơ quan Hải quan theo Luật số 45/2005/QH11), thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB - điều chỉnh qua Luật số 27/2008/QH12, Luật số 106/2016/QH13, Nghị định 180/2015/NĐ-CP, Thông tư 195/2015/TT-BTC), thuế giá trị gia tăng (VAT) và các loại phí đường bộ, trước bạ, cấp biển số.
  • Mô hình cung - cầu ngoại thương: Phân tích mô hình cân bằng cục bộ chỉ ra sự biến thiên của giá và lượng hàng hóa nhập khẩu khi có thuế ($P_t$) so với khi không có thuế ($P_w$). Thuế quan nhập khẩu làm giá nội địa tăng, khuyến khích các nhà sản xuất nội địa gia tăng sản lượng từ $Q_{S1}$ lên $Q_{S2}$, đồng thời làm lượng cầu tiêu dùng giảm từ $Q_{D1}$ xuống $Q_{D2}$, từ đó phát sinh phần chi phí xã hội (tổn thất phúc lợi do sản xuất quá mức và tiêu dùng dưới mức).

Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả áp dụng gồm:

  • Phương pháp thống kê hóa: Sử dụng trong phần tổng quan tài liệu để hệ thống các công trình nghiên cứu trước đây (như các đề tài tại Đại học Ngoại thương năm 2008, Đại học Quốc gia Hà Nội, và nghiên cứu của Đỗ Quang Hải năm 2012) nhằm xác định khoảng trống nghiên cứu.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phân loại, tổng hợp số liệu từ các báo cáo chính thức để làm rõ cơ chế tác động của từng quyết định thuế.
  • Phương pháp thống kê và so sánh: Đối chiếu biến động thuế suất, lượng xe và kim ngạch nhập khẩu qua các năm và so sánh chỉ số thị trường ô tô Việt Nam với các quốc gia trong khu vực.
  • Phương pháp kinh tế lượng: Thu thập chuỗi số liệu từ năm 2007 đến năm 2017, xây dựng mô hình hồi quy, kiểm định ma trận hệ số tương quan giữa các biến và kiểm tra tính phân phối chuẩn của phần dư sai số $U$.

Nguồn dữ liệu của khóa luận được thu thập từ Tổng cục Hải quan, Tổng cục Thống kê, Hiệp hội các nhà Sản xuất Ô tô Việt Nam (VAMA), cơ sở dữ liệu thị trường ô tô JATO, báo cáo của tổ chức FT Confidential Research (FTCR) thuộc Financial Times, Fitch Group (BMI Research) và Trung tâm nghiên cứu máy móc tự động (CAR) thuộc Đại học Duisburg-Essen (Đức).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận cơ bản về thuế quan đối với mặt hàng ô tô nhập khẩu mới nguyên chiếc

Chương 1 làm rõ vai trò của hoạt động nhập khẩu ô tô CBU: bổ sung các dòng xe trong nước chưa sản xuất được, xóa bỏ độc quyền, tạo sức ép cạnh tranh nâng cao công nghệ trong nước và đóng góp nguồn thu ngân sách. Tác giả phân loại 5 hình thức nhập khẩu gồm: nhập khẩu trực tiếp, nhập khẩu ủy thác, nhập khẩu liên doanh, hàng đổi hàng và tạm nhập tái xuất (thời hạn tối đa 90 ngày). Phân tích môi trường vĩ mô tác động tới nhập khẩu gồm lạm phát, lãi suất tín dụng, tỷ giá hối đoái và quy hoạch hạ tầng giao thông.

Phần kinh nghiệm quốc tế tập trung phân tích hai thị trường có nét tương đồng:

  • Thái Lan: Từ thập niên 1970 duy trì mức thuế nhập khẩu CKD và CBU ở mức 40 - 80% kèm quy định khắt khe về tỷ lệ nội địa hóa. Đến năm 1990, Thái Lan bãi bỏ quy định tỷ lệ nội địa hóa, chuyển trọng tâm chính sách sang phát triển ngành công nghiệp phụ trợ, tài trợ đào tạo kỹ sư và hỗ trợ xuất khẩu linh kiện, đưa Thái Lan trở thành trung tâm sản xuất ô tô đứng thứ 12 thế giới.
  • Trung Quốc: Ban đầu bảo hộ nghiêm ngặt nhưng không đem lại hiệu quả doanh thu tương xứng. Từ năm 1980 thu hút các hãng xe FDI (Volkswagen, GM, Toyota) lập liên doanh. Khi gia nhập WTO, Trung Quốc hạ thuế CBU từ 80 - 100% xuống 10 - 25% vào năm 2006, hạ tiếp xuống 30% đối với xe dưới 3.000 cc và 37,6% đối với xe trên 3.000 cc vào năm 2015. Đặc biệt, Trung Quốc giữ mức thuế nhập khẩu ô tô nguyên chiếc ngang bằng với linh kiện phụ tùng (ở mức 28% vào năm 2006), buộc các nhà sản xuất quốc tế phải chuyển giao công nghệ sản xuất linh kiện trực tiếp trên lãnh thổ Trung Quốc.

Chương 2: Tác động của sự thay đổi thuế quan Việt Nam lên hàng ô tô nhập khẩu mới nguyên chiếc

Chương 2 phân tích thực trạng thị trường ô tô Việt Nam với tỷ lệ sở hữu đạt 16 xe/1.000 dân, thấp hơn rất nhiều so với Malaysia (341 xe/1.000 dân), Thái Lan (196 xe/1.000 dân) và Indonesia (55 xe/1.000 dân). Trong khi đó, ý định mua xe của người tiêu dùng thành thị đạt trên 15% trong các năm 2016 - 2017 (cao nhất trong nhóm 5 nước ASEAN theo FTCR).

Tổng doanh số toàn thị trường năm 2017 đạt 272.750 xe, giảm 10% so với năm 2016; trong đó xe lắp ráp trong nước giảm 19% còn xe CBU tăng 9%. Trong top 10 mẫu xe bán chạy nhất năm 2017, xe lắp ráp chiếm 8 vị trí (Toyota Vios dẫn đầu với 22.358 xe). Về nhập khẩu, tháng 2/2017 hai hãng Kia và Toyota chiếm trên 40% thị phần, Ford chiếm 10,6%, Mazda chiếm 10,24%. Indonesia vượt qua Hàn Quốc và Trung Quốc thành nhà cung cấp lớn thứ 2: 6 tháng đầu năm 2017 lượng xe dưới 9 chỗ từ Indonesia đạt 8,9 nghìn chiếc ($171 triệu USD, đơn giá bình quân 19,3 nghìn USD/chiếc, tăng 66 lần về lượng so với cùng kỳ); Thái Lan đạt 6,6 nghìn chiếc ($105 triệu USD, bình quân 15,8 nghìn USD/chiếc); Ấn Độ đạt 5 nghìn chiếc ($21 triệu USD, đơn giá khai báo 4,2 nghìn USD/chiếc).

Tác giả hệ thống hóa các mốc biến động thuế nhập khẩu CBU thành hai giai đoạn chính:

  • Giai đoạn 2005 - tháng 3/2008: Xu hướng giảm thuế nhằm hội nhập và kiềm chế giá xe. Quyết định 98/2005/QĐ-BTC giảm thuế từ 100% xuống 90%; Quyết định 78/2006/QĐ-BTC giảm xuống 80% (gia nhập WTO); Quyết định 70/2007/QĐ-BTC giảm xuống 70%; Quyết định 85/2007/QĐ-BTC giảm tiếp xuống 60%.
  • Giai đoạn từ tháng 3/2008 đến 2018: Trước tình trạng nhập khẩu ồ ạt gây nhập siêu, Bộ Tài chính ban hành Quyết định 13/2008/QĐ-BTC tăng thuế lên 70%, tiếp đó chỉ một tuần sau ban hành Quyết định 17/2008/QĐ-BTC đẩy thuế suất lên 83%. Sau đó, thuế giảm nhẹ từng năm: Thông tư 216/2009/TT-BTC xuống 80% (năm 2010); Thông tư 184/2011/TT-BTC giảm 1 - 3% (xe 2 cầu còn 72%); năm 2012 còn 73%; năm 2013 còn 71%. Từ năm 2014, lộ trình ATIGA theo Thông tư 165/2014/TT-BTC cắt giảm nhanh: 2014 xuống 50%, 2016 còn 40%, 2017 còn 30% và ngày 1/1/2018 về mức 0%.
Năm Số lượng nhập khẩu (Chiếc) Trị giá nhập khẩu (Triệu USD) Mức thuế suất thuế nhập khẩu trung bình tiêu biểu
2007 30.330 579,10 80% - 70% - 60%
2008 88.670 1.039,90 70% tăng lên 83%
2009 80.596 1.268,60 83%
2010 53.841 978,51 80%
2011 54.619 1.028,70 77%
2012 27.427 616,75 73%
2013 35.213 726,80 71%
2014 45.631 1.568,00 50% (lộ trình ATIGA)
2015 125.534 2.990,00 50% (ATIGA)
2016 112.497 2.414,00 40% (ATIGA)
2017 (sơ bộ) 97.213 2.236,90 30% (ATIGA)

Đánh giá tác động: Thuế quan là công cụ tăng thu ngân sách và hạn chế nhập siêu giai đoạn 2008 - 2011, song việc thay đổi thuế suất quá đột ngột trong thời gian ngắn (tăng 23% chỉ trong tháng 4/2008) gây bất ổn cho hoạt động kinh doanh. Tỷ lệ bảo hộ kéo dài làm giá xe trong nước đắt đỏ, trong khi các doanh nghiệp nội địa vẫn chỉ dừng lại ở khâu lắp ráp đơn thuần, chưa nâng cao được tỷ lệ nội địa hóa linh kiện.

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện thuế quan Việt Nam nhằm thúc đẩy sự phát triển thị trường nhập khẩu ô tô mới nguyên chiếc

Tác giả dự báo nhu cầu tiêu dùng ô tô tại Việt Nam sẽ bước vào giai đoạn bùng nổ khi tầng lớp trung lưu gia tăng, đi đôi với sự dịch chuyển nguồn cung sang các nước có ưu thế chi phí trong khối ASEAN như Thái Lan và Indonesia khi thuế suất về 0%.

Từ thực trạng phân tích, khóa luận đề xuất 6 nhóm giải pháp về phía cơ quan quản lý Nhà nước:

  1. Đảm bảo tính dự báo được của chính sách thuế: Xây dựng lộ trình rõ ràng, công khai trước khi áp dụng để doanh nghiệp kịp thời thích ứng, chấm dứt tình trạng điều chỉnh thuế suất bất ngờ.
  2. Đảm bảo tính cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế: Không duy trì sự phân biệt đối xử bất hợp lý giữa doanh nghiệp lắp ráp và doanh nghiệp nhập khẩu.
  3. Nâng cao năng lực cán bộ hoạch định chính sách: Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về hải quan và ngoại thương cho đội ngũ công chức thuế.
  4. Tuân thủ cam kết quốc tế và xúc tiến thương mại: Thực hiện nghiêm các mốc cắt giảm thuế theo WTO, ATIGA, ACFTA, AKFTA.
  5. Giảm bớt mức bảo hộ, thúc đẩy hội nhập sâu: Từng bước giảm tỷ lệ bảo hộ danh nghĩa và bảo hộ hữu hiệu (ERP), buộc ngành sản xuất trong nước phải tự nâng cao năng lực cạnh tranh.
  6. Thay thế thuế quan bằng các tiêu chuẩn kỹ thuật: Chuyển đổi từ công cụ thuế quan (vốn bị ràng buộc bởi các hiệp định) sang hàng rào phi thuế quan hợp pháp như tiêu chuẩn khí thải (EURO 2, EURO 4), tiêu chuẩn kiểm định an toàn kỹ thuật phương tiện cơ giới.

Khuyến nghị đối với doanh nghiệp kinh doanh ô tô nhập khẩu:

  • Hoàn thiện mạng lưới phân phối và hệ thống dịch vụ hậu mãi.
  • Đẩy mạnh công tác phân tích, nghiên cứu thị hiếu tiêu dùng xe nhỏ, xe tiết kiệm nhiên liệu.
  • Nâng cao trình độ đội ngũ nhân sự về thủ tục hải quan và logistics quốc tế.

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống hóa dữ liệu chính sách và thị trường: Khóa luận tổng hợp chi tiết lộ trình thay đổi mức thuế suất thuế nhập khẩu ô tô mới nguyên chiếc qua 14 mốc điều chỉnh từ trước năm 2005 đến năm 2018, đồng thời liên kết với biến động của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và các nghị định điều chỉnh quản lý ô tô cũ (Nghị định 12/2006/NĐ-CP và Nghị định 125/2017/NĐ-CP).
  • Phân tích định lượng dữ liệu thực tế: Khóa luận ghi nhận sự biến động rõ nét của lượng xe và kim ngạch nhập khẩu qua 11 năm (2007 - 2017). Minh chứng số liệu nhập khẩu đạt đỉnh năm 2015 với 125.534 xe ($2.990 triệu USD) và giảm nhẹ trong năm 2016 - 2017 do tâm lý chờ đợi thuế 0% vào năm 2018; đồng thời định lượng sự trỗi dậy của thị trường Indonesia (tăng 66 lần về lượng trong 6 tháng đầu năm 2017).
  • Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Các đề tài trước đó (như nghiên cứu của Đại học Kinh tế - ĐHQGHN, Trần Thị Bích Hường, hoặc Đại học Ngoại thương 2008, Đỗ Quang Hải 2012) chủ yếu dừng lại ở việc đề xuất tăng thuế bảo hộ lắp ráp trong nước, nghiên cứu định tính hoặc dữ liệu đã lỗi thời. Khóa luận của tác giả Phạm Thị Thảo đã tiếp cận đa chiều khi chỉ ra mặt trái của bảo hộ thuế quan cao, cập nhật đầy đủ các cam kết của các FTA mới và áp dụng kiểm định ma trận tương quan kinh tế lượng cho dữ liệu 2007 - 2017.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Số liệu năm 2017 tại thời điểm thực hiện khóa luận mới là số liệu sơ bộ từ Tổng cục Thống kê và Tổng cục Hải quan. Do kết thúc nghiên cứu vào đầu năm 2018, khóa luận chưa thể đánh giá kiểm chứng tác động thực tế của mốc thuế suất 0% từ ATIGA và tác động thực thi của Nghị định 116/2017/NĐ-CP quy định về điều kiện sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu linh kiện ô tô trên thực địa.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đánh giá diễn biến thị trường nhập khẩu CBU giai đoạn sau năm 2018 khi thuế nhập khẩu nội khối ASEAN đã triệt tiêu hoàn toàn; phân tích sâu tác động của các rào cản kỹ thuật kiểm định theo từng lô hàng thay thế cho công cụ thuế quan.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo chuyên ngành hữu ích cho sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu thuộc các ngành Kinh doanh Quốc tế, Kinh tế Đối ngoại, Thương mại Quốc tế và Quản lý Thuế. Các nội dung có giá trị tham khảo nổi bật bao gồm:

  • Bảng tổng hợp chuỗi chính sách thuế suất nhập khẩu ô tô qua các văn bản quy phạm pháp luật (Quyết định của Bộ Tài chính từ số 98/2005/QĐ-BTC đến Thông tư 182/2015/TT-BTC).
  • Mô hình so sánh chính sách công nghiệp ô tô và thuế nhập khẩu linh kiện/nguyên chiếc giữa Việt Nam với Thái Lan và Trung Quốc.
  • Chuỗi số liệu nhập khẩu ô tô CBU giai đoạn 2007 - 2017 phục vụ phân tích xu hướng thương mại ngành thiết bị vận tải.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao thuế nhập khẩu ô tô nguyên chiếc tại Việt Nam lại tăng đột ngột từ 60% lên 83% trong năm 2008?
Sau khi thuế suất giảm liên tục về mức 60% vào cuối năm 2007 khiến lượng ô tô CBU nhập khẩu tăng vọt (năm 2008 đạt 88.670 xe, kim ngạch vượt 1 tỷ USD), trước áp lực nhập siêu nặng nề và hạ tầng giao thông quá tải trong bối cảnh suy thoái kinh tế vĩ mô, Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định 13/2008/QĐ-BTC nâng thuế lên 70% vào ngày 11/3/2008, và chỉ hơn một tháng sau tiếp tục ban hành Quyết định 17/2008/QĐ-BTC ngày 17/4/2008 đẩy thuế suất lên 83% để hạn chế khẩn cấp lượng xe nhập khẩu.

2. Tỷ lệ sở hữu xe ô tô tại Việt Nam được tác giả ghi nhận là bao nhiêu so với các quốc gia trong khu vực?
Tính đến giai đoạn khảo sát của khóa luận, tỷ lệ sở hữu ô tô của Việt Nam chỉ đạt 16 xe/1.000 dân, thấp hơn 21 lần so với Malaysia (341 xe/1.000 dân), thấp hơn Thái Lan (196 xe/1.000 dân) và Indonesia (55 xe/1.000 dân).

3. Trung Quốc đã áp dụng chính sách thuế quan khác biệt như thế nào so với Việt Nam để phát triển ngành công nghiệp ô tô nội địa?
Khác với Việt Nam duy trì thuế xe CBU cao nhưng đánh thuế ưu đãi thấp lên linh kiện phụ tùng CKD nhập khẩu, Trung Quốc áp dụng chính sách đánh thuế nhập khẩu linh kiện phụ tùng ở mức ngang bằng với mức thuế ô tô nguyên chiếc (cùng ở mức 28% vào năm 2006). Điều này buộc các tập đoàn sản xuất xe quốc tế muốn bán xe tại Trung Quốc phải đầu tư công nghệ và sản xuất linh kiện trực tiếp tại thị trường nội địa Trung Quốc.

4. Lộ trình cắt giảm thuế nhập khẩu ô tô CBU từ khu vực ASEAN theo Hiệp định ATIGA được quy định cụ thể ra sao?
Căn cứ Thông tư số 165/2014/TT-BTC thực hiện Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN giai đoạn 2015 - 2018, thuế suất nhập khẩu ô tô CBU từ ASEAN được cắt giảm lần lượt: năm 2014 giảm từ 60% xuống 50%, năm 2016 xuống 40%, năm 2017 xuống 30% và chính thức hạ về 0% kể từ ngày 1/1/2018.

5. Thị trường nào có sự tăng trưởng đột biến nhất về nguồn cung ô tô dưới 9 chỗ ngồi vào Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2017?
Thị trường có mức bứt phá lớn nhất là Indonesia, đạt 8,9 nghìn chiếc với tổng trị giá 171 triệu USD, tăng 66 lần về lượng và tăng 103 lần về trị giá so với cùng kỳ năm 2016, vượt qua các thị trường truyền thống như Trung Quốc và Hàn Quốc.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Phạm Thị Thảo đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý thuyết và diễn biến thực tế của chính sách thuế quan áp dụng đối với ô tô mới nguyên chiếc nhập khẩu vào Việt Nam qua các thời kỳ. Bằng việc kết hợp thống kê chuỗi số liệu giai đoạn 2007 - 2017 và kiểm định kinh tế lượng, công trình đã làm rõ mối tương quan giữa mức độ biến động thuế suất với quy mô kim ngạch nhập khẩu cũng như phản ứng của thị trường tiêu dùng nội địa. Kết quả nghiên cứu khẳng định tính cấp thiết của việc chuyển đổi phương thức quản lý từ bảo hộ thuế quan truyền thống sang thiết lập các tiêu chuẩn kỹ thuật phi thuế quan, đảm bảo môi trường cạnh tranh bình đẳng và thực thi hiệu quả các cam kết hội nhập quốc tế.