Tổng quan nghiên cứu

Vườn quốc gia Ba Vì có tổng diện tích tự nhiên 10.782 ha trải dài trên địa giới hành chính của thành phố Hà Nội và tỉnh Hòa Bình, giữ vai trò lá phổi xanh và trung tâm đa dạng sinh học đặc biệt quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Tuy nhiên, áp lực dân sinh từ 7 xã vùng đệm thuộc huyện Ba Vì với hơn 15.000 hộ dân đang tạo ra những xung đột gay gắt giữa bảo tồn thiên nhiên và nhu cầu phát triển kinh tế tự phát. Phần lớn người dân địa phương sinh sống dựa vào nông nghiệp truyền thống, trong khi diện tích đất canh tác bình quân chỉ đạt khoảng 350 m2 đến 450 m2 mỗi khẩu, khiến sinh kế phụ thuộc lớn vào nguồn tài nguyên từ rừng đặc dụng.

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Loan được triển khai trong thời gian 16 tháng, từ tháng 6 năm 2016 đến tháng 10 năm 2017, tập trung làm rõ thực trạng tài nguyên rừng, định danh các phương thức mưu sinh của cộng đồng và lượng hóa mức độ tác động của các hoạt động này đến hệ sinh thái Vườn quốc gia Ba Vì. Mục tiêu trọng tâm của đề tài là xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu khoa học toàn diện, xác định nguyên nhân cốt lõi dẫn đến suy thoái tài nguyên và đề xuất các giải pháp đồng quản lý khả thi. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc hỗ trợ chính quyền địa phương cân bằng giữa mục tiêu tăng trưởng thu nhập hộ gia đình từ 8% đến 10% mỗi năm với việc bảo tồn nguyên vẹn 10.782 ha rừng tự nhiên, giảm tỷ lệ vi phạm lâm luật xuống mức thấp nhất.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Đề tài vận dụng khung phân tích sinh kế bền vững của Vụ Phát triển Quốc tế Anh (DFID, 1998/2003) làm nền tảng lý luận xuyên suốt. Khung DFID tiếp cận sinh kế thông qua ngũ giác nguồn vốn gồm vốn con người, vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn tài chính và vốn xã hội. Nghiên cứu kết hợp lý thuyết quản trị tài nguyên dựa vào cộng đồng (CBNRM) theo quan điểm của Ostrom và Lê Diên Dực (2012), nhấn mạnh rằng việc phân định quyền hưởng lợi và cơ chế đồng quản lý là chìa khóa để bảo tồn đa dạng sinh học lâu dài.

Bên cạnh đó, các khái niệm trọng tâm được chuẩn hóa dựa trên Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, Nghị định số 117/2010/NĐ-CP và Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg về phân định ba phân khu chức năng rừng đặc dụng cùng quy chế vùng đệm. Ba khái niệm then chốt bao gồm: sinh kế bền vững với khả năng chống chịu trước các cú sốc tự nhiên; vùng đệm ngoài có chức năng giảm xung đột sinh thái; và lâm sản ngoài gỗ (LSNG) như một nguồn thu bổ sung mang tính sống còn đối với các hộ nghèo cận rừng.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được kế thừa từ các báo cáo kinh tế xã hội huyện Ba Vì giai đoạn 2010 - 2015, hồ sơ kiểm kê rừng của Vườn quốc gia Ba Vì và số liệu thống kê hiện trạng sử dụng đất của 7 xã vùng đệm.

Về dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu tiến hành chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên tại 3 xã tiêu biểu đại diện cho các vùng sinh thái và dân tộc khác nhau gồm xã Vân Hòa, Tản Lĩnh và Ba Trại. Cỡ mẫu khảo sát bao gồm 90 hộ gia đình (mỗi xã điều tra 30 hộ) kết hợp cùng 15 cuộc phỏng vấn sâu cán bộ kiểm lâm và lãnh đạo xã. Nghiên cứu áp dụng các công cụ đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA), bao gồm sơ đồ hóa Venn để phân tích thể chế và ma trận SWOT để xác định điểm nghẽn trong công tác quản lý.

Các dữ liệu định lượng được xử lý và phân tích thống kê mô tả, phân tích cơ cấu chi phí và tương quan thu nhập thông qua phần mềm SPSS và Microsoft Excel. Việc lựa chọn phương pháp phân tích này giúp lượng hóa chính xác tỷ trọng đóng góp của kinh tế rừng vào tổng thu nhập hộ, đồng thời làm rõ sự khác biệt trong hành vi khai thác giữa các nhóm hộ thuần nông, hộ làm dịch vụ và hộ người Dao làm nghề bốc thuốc.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã xác định được 6 hình thức sinh kế chính của cư dân vùng đệm có tác động trực tiếp và gián tiếp đến tài nguyên rừng Vườn quốc gia Ba Vì: canh tác nông lâm nghiệp trên đất rừng nhận khoán; khai thác gỗ củi làm chất đốt và thương mại; chăn thả gia súc tự do; khai thác lâm sản ngoài gỗ (măng tre, nứa, song mây, cây thuốc); săn bắt động vật hoang dã; và cung cấp dịch vụ du lịch sinh thái tự phát.

Trong các hình thức trên, việc khai thác lâm sản ngoài gỗ và thu hái củi đun chiếm tỷ lệ cao nhất với hơn 62,5% số hộ tham gia thường xuyên. Đáng chú ý, 78,3% các hộ thu hái cây dược liệu là đồng bào người Dao tại khu vực giáp ranh, tạo nên áp lực khai thác cạn kiệt nhiều loài thảo dược quý. Thu nhập từ các hoạt động sinh kế liên quan đến rừng đóng góp bình quân từ 28,5% đến 36,4% tổng thu nhập hàng năm của các hộ cận nghèo và hộ thuần nông. Trong khi đó, tỷ trọng chi phí đầu tư cho sản xuất lâm nghiệp của người dân lại rất thấp, chỉ chiếm khoảng 8,2% tổng chi phí đầu tư sản xuất của hộ gia đình. Nhóm tài nguyên thực vật tầng thấp và lâm sản ngoài gỗ là hai đối tượng chịu mức độ suy thoái nặng nề nhất, với hơn 65% số hộ khảo sát xác nhận sự sụt giảm trữ lượng thảo dược tự nhiên so với 5 năm trước đó.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng khai thác quá mức bắt nguồn từ sự thiếu hụt nghiêm trọng của nguồn vốn tự nhiên và vốn tài chính tại cấp hộ. Thu nhập bình quân của người dân vùng đệm chỉ đạt khoảng 1,8 triệu đến 2,2 triệu đồng một người mỗi tháng trong giai đoạn điều tra. Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo tại các thôn miền núi vùng đệm vẫn duy trì ở mức 12% đến 15%, thiếu hụt các mô hình sinh kế phi nông nghiệp thay thế. Thực trạng này hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu của Gilmour và Nguyễn Văn Sản (1999) tại Vườn quốc gia Cát Tiên và Pù Mát, khẳng định rằng khi người dân bị hạn chế quyền tiếp cận tài nguyên truyền thống mà không được bù đắp bằng các cơ chế hỗ trợ tài chính tương xứng, hành vi xâm nhập rừng trái phép sẽ gia tăng như một tất yếu sinh tồn.

Trong báo cáo thực chứng, các dữ liệu về cơ cấu kinh tế hộ được minh họa trực quan qua biểu đồ tròn thể hiện 6 nguồn thu nhập chính, kết hợp bảng thống kê chi phí đầu vào của các mô hình canh tác nông lâm kết hợp. Đồng thời, biểu đồ cột so sánh mức độ suy thoái giữa 5 nhóm tài nguyên (đất rừng, gỗ, cây dược liệu, động vật và cảnh quan) đã phản ánh rõ nét tính cấp bách của việc tái cơ cấu sinh kế cho cộng đồng địa phương.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng, nghiên cứu đưa ra 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm hài hòa giữa mục tiêu bảo tồn tài nguyên rừng và phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng dân cư:

Thứ nhất, hoàn thiện chính sách giao khoán đất rừng gắn với chi trả dịch vụ môi trường rừng. Ban Quản lý Vườn quốc gia Ba Vì phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện Ba Vì rà soát, bàn giao khoán bảo vệ rừng bền vững với diện tích mục tiêu 1.200 ha cho các hộ dân tại xã Vân Hòa, Tản Lĩnh và Ba Trại trong giai đoạn 2018 - 2020, nâng mức chi trả nhận khoán để đảm bảo nguồn thu nhập tối thiểu 3,5 triệu đồng mỗi ha hàng năm cho người dân.

Thứ hai, chuyển đổi mô hình sinh kế truyền thống sang phát triển chuỗi giá trị cây dược liệu bản địa dưới tán rừng. Hội Nông dân huyện phối hợp với Chi cục Kiểm lâm thành phố Hà Nội triển khai gói tín dụng ưu đãi 50 triệu đồng mỗi hộ từ Quỹ Khuyến nông cho 200 hộ gia đình tại xã Ba Trại và Vân Hòa, phấn đấu nâng tỷ trọng thu nhập từ dược liệu bền vững lên 25% trong cơ cấu kinh tế hộ giai đoạn 2019 - 2022.

Thứ ba, quy hoạch 300 ha vùng chăn thả gia súc tập trung ngoài ranh giới vườn và hỗ trợ chuyển đổi 60 ha đất bạc màu sang trồng cỏ giống mới giàu dinh dưỡng. Ủy ban nhân dân các xã vùng đệm chủ trì thực hiện nhằm chấm dứt 100% tình trạng thả rông gia súc trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt trước năm 2021.

Thứ tư, đẩy mạnh truyền thông pháp luật và giáo dục môi trường dựa vào cộng đồng. Chi cục Kiểm lâm Hà Nội phối hợp với các tổ chức đoàn thể địa phương tổ chức định kỳ 20 lớp tập huấn mỗi năm cho 1.500 lượt người dân, phấn đấu giảm 50% số vụ vi phạm khai thác lâm sản trái phép trên toàn địa bàn trước năm 2023.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn và tính ứng dụng cao cho nhiều nhóm đối tượng:

Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách lâm nghiệp: Cung cấp nguồn luận cứ khoa học để hoàn thiện quy hoạch phân khu chức năng rừng đặc dụng, điều chỉnh các chính sách an sinh xã hội và xây dựng kế hoạch quản lý liên ngành cho các khu bảo tồn thiên nhiên trên phạm vi cả nước.

Ban quản lý các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên: Là cẩm nang thực hành giá trị giúp các nhà quản lý áp dụng phương pháp tiếp cận khung sinh kế DFID, thiết kế các chương trình đồng quản lý rừng và giải quyết hài hòa xung đột quyền lợi giữa ban quản lý và cộng đồng bản địa.

Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Khoa học Môi trường và Quản lý Rừng: Nguồn tài liệu học thuật tham khảo mẫu mực về quy trình thiết kế công cụ nghiên cứu thực địa, kỹ thuật thu thập dữ liệu bằng phương pháp PRA và xử lý dữ liệu khảo sát bằng phần mềm chuyên dụng.

Các tổ chức phi chính phủ và quỹ phát triển nông thôn: Cung cấp số liệu nền tảng phục vụ việc xây dựng đề xuất tài trợ cho các dự án bảo tồn đa dạng sinh học gắn với xóa đói giảm nghèo, phát triển du lịch sinh thái cộng đồng và bảo tồn tri thức bản địa về cây thuốc nam.

Câu hỏi thường gặp

Hoạt động sinh kế nào gây áp lực suy thoái lớn nhất lên tài nguyên Vườn quốc gia Ba Vì? Khai thác lâm sản ngoài gỗ (đặc biệt là cây dược liệu) và khai thác củi đun là hai hoạt động gây tổn hại nghiêm trọng nhất. Hơn 62,5% số hộ vùng đệm tham gia thu hái tự nhiên thường xuyên mà không có biện pháp bảo tồn, khiến trữ lượng thảo dược bản địa suy giảm trên 65%.

Tại sao người dân vùng đệm vẫn tiếp tục vào rừng khai thác tài nguyên trái quy định? Nguyên nhân chủ yếu do quỹ đất canh tác nông nghiệp quá thấp, chỉ đạt khoảng 350 m2 mỗi khẩu, kết hợp với tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo chiếm 12% đến 15%. Thu nhập từ nông nghiệp không đủ trang trải sinh hoạt, buộc người dân dựa vào nguồn lợi tự nhiên để mưu sinh.

Nguồn thu từ rừng đóng góp bao nhiêu phần trăm trong tổng thu nhập của hộ gia đình? Theo kết quả điều tra thực tế tại 3 xã trọng điểm, các hoạt động kinh tế có nguồn gốc từ rừng đóng góp từ 28,5% đến 36,4% tổng thu nhập hàng năm của các hộ gia đình thuần nông và hộ nghèo sinh sống sát ranh giới vườn quốc gia.

Mô hình quản lý nào được xem là tối ưu để bảo vệ rừng Ba Vì bền vững? Phương thức quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng (CBNRM) kết hợp cơ chế đồng quản lý giữa Ban quản lý Vườn quốc gia, chính quyền địa phương và người dân là giải pháp căn cơ nhất, giúp hài hòa lợi ích kinh tế với nghĩa vụ bảo tồn.

Luận văn đã sử dụng phương pháp chọn mẫu khảo sát thực địa như thế nào? Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên, tiến hành điều tra bảng hỏi cấu trúc trên 90 hộ gia đình tại 3 xã đại diện (Vân Hòa, Tản Lĩnh, Ba Trại) cùng 15 cuộc phỏng vấn sâu cán bộ quản lý nhằm đảm bảo độ tin cậy khoa học cao.

Kết luận

Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Loan đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu với 5 kết luận và đóng góp then chốt:

  • Làm sáng tỏ hiện trạng đa dạng sinh học và các nguy cơ đe dọa sinh thái trên quy mô 10.782 ha của Vườn quốc gia Ba Vì.
  • Nhận diện và phân loại chi tiết 6 nhóm hình thức sinh kế đặc trưng của cộng đồng cư dân 7 xã vùng đệm.
  • Lượng hóa mức độ phụ thuộc kinh tế của hộ dân vào rừng, chỉ ra nguồn thu từ lâm sản chiếm tới 36,4% tổng thu nhập của các nhóm hộ yếu thế.
  • Xác định thực vật tầng thấp và lâm sản ngoài gỗ là hai nhóm tài nguyên bị tổn thương nặng nề nhất do thiếu vốn đầu tư tái tạo.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ kết hợp thể chế, kinh tế và công nghệ quản trị rừng dựa vào cộng đồng.

Lộ trình triển khai các can thiệp sinh kế cần được hiện thực hóa theo từng giai đoạn 3 năm đến 5 năm tới, tập trung ưu tiên hoàn thiện quy chế chia sẻ lợi ích lâm sản và nhân rộng mô hình trồng dược liệu bản địa.

Kính mời các nhà nghiên cứu, cán bộ quản lý môi trường và độc giả quan tâm tra cứu toàn văn luận văn thạc sĩ để khai thác chi tiết bộ dữ liệu khảo sát và các khuyến nghị chính sách giá trị.