Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống tài chính của mỗi quốc gia, các ngân hàng thương mại đóng vai trò là định chế trung gian thanh toán và luân chuyển vốn thiết yếu từ chủ thể thặng dư sang chủ thể khan hiếm, đảm bảo cung ứng thanh khoản và duy trì sự ổn định tài chính cũng như tăng trưởng bền vững của nền kinh tế. Quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, tiêu biểu là việc Việt Nam gia nhập Cộng đồng ASEAN vào năm 2015 và áp dụng các tiêu chuẩn an toàn vốn theo chuẩn mực Basel, đặt hệ thống ngân hàng thương mại trước yêu cầu phải hoàn thiện quy mô và quy chế quản trị rủi ro. Song song với đó, hệ thống ngân hàng thường xuyên phải đối mặt với các áp lực nội tại như nợ xấu, rủi ro sinh lời thấp và rủi ro thanh khoản.

Thực tiễn từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã chỉ ra rằng sự suy giảm thanh khoản của các ngân hàng thương mại là một trong những nguyên nhân trọng yếu (Ủy ban Giám sát Ngân hàng Basel, 2008). Khi ngân hàng rơi vào trạng thái mất khả năng thanh toán các nghĩa vụ đến hạn hoặc phải chi trả với chi phí quá cao, tổn thất không chỉ dừng lại ở hiệu suất kinh doanh mà còn làm suy giảm uy tín và niềm tin của người gửi tiền (Jenkinson, 2008). Bên cạnh các yếu tố nội tại, giai đoạn 2011–2021 chứng kiến sự bùng phát của đại dịch Covid-19 và biến động kinh tế vĩ mô, tác động trực tiếp đến khả năng cân đối nguồn vốn và thanh khoản của hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) tại Việt Nam.

Trước thực tiễn đó, khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  • Mục tiêu tổng quát: Xác định mức độ tác động của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả hoạt động của các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2011–2021, từ đó lập luận và đề xuất một số hàm ý, chính sách nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng trong mối tương quan với rủi ro thanh khoản.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Thứ nhất, xác định tác động của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
    2. Thứ hai, đánh giá được mức độ và chiều hướng tác động của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả hoạt động của các NHTMCP Việt Nam.
    3. Thứ ba, triển khai một số hàm ý và khuyến nghị đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng trong mối tương quan với rủi ro thanh khoản.

Các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra tương ứng:

  • Rủi ro thanh khoản tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng như thế nào?
  • Mức độ tác động của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả hoạt động của các NHTMCP Việt Nam?
  • Một số hàm ý, giải pháp nào để nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng trong mối tương quan với rủi ro thanh khoản trong tương lai?

Về phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Rủi ro thanh khoản và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 11 năm từ năm 2011 đến năm 2021. Khoảng thời gian này được chọn nhằm phản ánh giai đoạn hậu khủng hoảng kinh tế tài chính năm 2008, quá trình Việt Nam triển khai chính sách tài chính - ngân hàng theo chuẩn Basel và tác động của đại dịch Covid-19.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu khảo sát 26 NHTMCP Việt Nam có dữ liệu kiểm toán đầy đủ, minh bạch và niêm yết rõ ràng. Tính đến tháng 03/2022, hệ thống có 31 NHTMCP theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước; tác giả loại bỏ 5 ngân hàng không đảm bảo về mặt dữ liệu. Mẫu 26 ngân hàng chiếm gần 85% tổng số NHTMCP, đảm bảo tính đại diện cho toàn bộ hệ thống.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng trên nền tảng lý thuyết quản trị thanh khoản và hiệu quả hoạt động ngân hàng:

  • Thanh khoản và rủi ro thanh khoản: Theo Ủy ban Basel (2008), thanh khoản là khả năng ngân hàng vừa có thể gia tăng tài sản vừa đáp ứng các nghĩa vụ nợ đến hạn mà không bị thiệt hại quá mức. Theo Thông tư số 08/2017/TT-NHNN ngày 01/8/2017 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, rủi ro thanh khoản là rủi ro các tổ chức tín dụng không có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ đến hạn hoặc có khả năng nhưng phải chịu chi phí cao để thực hiện nghĩa vụ đó. Nguyên nhân gây rủi ro thanh khoản gồm nguyên nhân chủ quan (quản trị thanh khoản lỏng lẻo, mất cân xứng kỳ hạn tài sản Có - tài sản Nợ theo Bùi Thị Nhung 2021, dự trữ tiền mặt quá thấp theo Trương Quang Thông 2019, kiểm soát thông tin nội bộ không chặt chẽ theo Nguyễn Hải Long và Nguyễn Minh Phương 2017) và nguyên nhân khách quan (khủng hoảng kinh tế làm suy giảm niềm tin theo Bunda & Desquilbet 2008, biến động chính sách tiền tệ và tỷ lệ thất nghiệp theo Hackethal & cộng sự 2010).
  • Lý thuyết đánh đổi rủi ro - lợi nhuận (Risk-Return Tradeoff): Khoản đầu tư có mức độ rủi ro càng lớn thì tỷ suất sinh lời kỳ vọng càng cao (Teixeira & cộng sự, 2021). Việc duy trì tài sản thanh khoản cao giúp ngân hàng phòng ngừa các cú sốc thanh khoản nhưng làm phát sinh chi phí cơ hội, kéo giảm khả năng sinh lời (Bordeleau & Graham, 2010; Miller & Bromiley, 1990).
  • Đo lường hiệu quả hoạt động (HQHĐ): Dựa trên định nghĩa của Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB, 2010) và nghiên cứu của Petria & cộng sự (2015), tác giả sử dụng tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản bình quân (ROAA) và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu bình quân (ROAE) để phản ánh chính xác hiệu quả quản lý qua các kỳ kế toán.
  • Đo lường rủi ro thanh khoản: Tác giả sử dụng chỉ số khe hở tài trợ (FGAP) theo Vodova (2013) và Đặng Văn Dân (2015), phản ánh chênh lệch giữa dư nợ tín dụng và huy động vốn trên tổng tài sản.

Mô hình hồi quy đa biến được thiết lập kế thừa từ nghiên cứu của Siaw (2013) và bổ sung các biến vĩ mô (Alexiou & Sofoklis, 2009; Vong & Chan, 2009):

$$\text{Mô hình (1): } ROAA_{i,t} = \beta_0 + \beta_1 FGAP_{i,t} + \beta_2 CAP_{i,t} + \beta_3 LLP_{i,t} + \beta_4 DEP_{i,t} + \beta_5 DIA_{i,t} + \beta_6 NPL_{i,t} + \beta_7 SIZE_{i,t} + \beta_8 GDP_t + \beta_9 INF_t + \varepsilon_{i,t}$$

$$\text{Mô hình (2): } ROAE_{i,t} = \alpha_0 + \alpha_1 FGAP_{i,t} + \alpha_2 CAP_{i,t} + \alpha_3 LLP_{i,t} + \alpha_4 DEP_{i,t} + \alpha_5 DIA_{i,t} + \alpha_6 NPL_{i,t} + \alpha_7 SIZE_{i,t} + \alpha_8 GDP_t + \alpha_9 INF_t + \varepsilon_{i,t}$$

Ký hiệu Tên biến Vai trò Cách tính toán Nguồn tham khảo
ROAA Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản bình quân Biến phụ thuộc $\frac{\text{Lợi nhuận sau thuế}}{\text{Tổng tài sản bình quân}} \times 100%$ Báo cáo tài chính kiểm toán; Petria & cộng sự (2015)
ROAE Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu bình quân Biến phụ thuộc $\frac{\text{Lợi nhuận sau thuế}}{\text{Vốn chủ sở hữu bình quân}} \times 100%$ Báo cáo tài chính kiểm toán; Petria & cộng sự (2015)
FGAP Khe hở tài trợ Biến độc lập chính $\frac{\text{Dư nợ tín dụng} - \text{Tiền gửi khách hàng}}{\text{Tổng tài sản}} \times 100%$ Vodova (2013); Siaw (2013); Đặng Văn Dân (2015)
CAP Vốn tự có ngân hàng Biến kiểm soát $\frac{\text{Vốn chủ sở hữu}}{\text{Tổng tài sản}} \times 100%$ Ruziqa (2013); Dezfouli & cộng sự (2014)
LLP Dự phòng rủi ro cho vay Biến kiểm soát $\frac{\text{Dự phòng rủi ro cho vay}}{\text{Tổng dư nợ}} \times 100%$ Arif & Anees (2012); Ozili & Outa (2017)
DEP Tỷ lệ tiền gửi Biến kiểm soát $\frac{\text{Tiền gửi khách hàng}}{\text{Tổng tài sản}} \times 100%$ Mwangi & cộng sự (2015)
DIA Thu nhập ngoài lãi Biến kiểm soát $\frac{\text{Thu nhập ngoài lãi}}{\text{Tổng thu nhập hoạt động}} \times 100%$ Stiroh (2004); Hoàng Ngọc Tiến và Võ Thị Hiền (2010)
NPL Tỷ lệ nợ xấu Biến kiểm soát $\frac{\text{Nợ nhóm 3, 4, 5}}{\text{Tổng dư nợ}} \times 100%$ Thông tư 02/2013/TT-NHNN
SIZE Quy mô ngân hàng Biến kiểm soát $\ln(\text{Tổng tài sản})$ Nguyen & Vo (2021)
GDP Tăng trưởng kinh tế Biến kiểm soát $\frac{\text{GDP}t - \text{GDP}{t-1}}{\text{GDP}_{t-1}} \times 100%$ Cơ sở dữ liệu Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB)
INF Tỷ lệ lạm phát Biến kiểm soát Dựa vào thay đổi chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Cơ sở dữ liệu Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB)

Về phương pháp định lượng, khóa luận sử dụng phần mềm Stata 17.0 xử lý dữ liệu bảng qua các phương pháp ước lượng: Mô hình bình phương bé nhất gộp (Pooled OLS), Mô hình tác động cố định (FEM), Mô hình tác động ngẫu nhiên (REM). Để kiểm tra các giả định hồi quy, tác giả tiến hành kiểm định Modified Wald (phát hiện phương sai sai số thay đổi), kiểm định Wooldridge (phát hiện tự tương quan), và ma trận hệ số tương quan/VIF (kiểm tra đa cộng tuyến). Tác giả áp dụng phương pháp bình phương bé nhất tổng quát khả thi (FGLS) để khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan, đồng thời sử dụng phương pháp mô men tổng quát hệ thống (System GMM - SGMM) để kiểm soát hiện tượng nội sinh trong mô hình.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu

Chương 1 thiết lập khung tổng thể của đề tài bằng cách nêu bật vai trò trung gian tài chính của NHTMCP và tính thiết yếu của công tác quản trị thanh khoản trong bối cảnh tái cơ cấu hệ thống, gia nhập ASEAN năm 2015 và triển khai chuẩn Basel. Tác giả chỉ ra các khoảng trống khi các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam đa phần khảo sát giai đoạn trước năm 2018 và cho ra các kết quả mâu thuẫn về chiều hướng tác động của rủi ro thanh khoản. Từ đó, chương 1 xác định rõ mục tiêu tổng quát, 3 mục tiêu cụ thể, 3 câu hỏi nghiên cứu, lựa chọn phạm vi mẫu gồm 26 NHTMCP Việt Nam trong 11 năm (2011–2021), sơ lược phương pháp nghiên cứu và bố cục 5 chương của khóa luận.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu trước

Chương 2 hệ thống hóa các khái niệm học thuật và cơ sở pháp lý về thanh khoản, rủi ro thanh khoản và hiệu quả hoạt động ngân hàng. Tác giả phân tích hai nhóm nguyên nhân gây rủi ro thanh khoản (chủ quan và khách quan), so sánh 4 chỉ số thanh khoản truyền thống ($L_1, L_2, L_3, L_4$) với phương pháp khe hở tài trợ (FGAP), đồng thời luận giải lý thuyết đánh đổi rủi ro - lợi nhuận. Phần tổng quan lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm quốc tế và trong nước, làm nổi bật sự phân hóa trong kết luận khoa học:

STT Tác giả (Năm) Phạm vi nghiên cứu Giai đoạn Phương pháp Tác động của RRTK đến HQHĐ
1 Siaw (2013) 22 ngân hàng tại Ghana 2002–2011 GLS Dương
2 Ruziqa (2013) NHTM có tổng tài sản > 10 nghìn tỷ Rupiah ở Indonesia 2007–2011 FEM Dương (ROA, ROE); Không ý nghĩa (NIM)
3 Dezfouli & cộng sự (2014) 18 ngân hàng tại Iran 2005–2011 GMM Dương
4 Ly (2015) 23 ngân hàng tại Châu Âu 2001–2011 OLS Âm
5 Ndoka & cộng sự (2017) 16 NHTM hoạt động ở Albania 2005–2015 OLS Âm
6 Arif & Anees (2012) 22 ngân hàng tại Pakistan 2004–2009 OLS Âm
7 Hamdi & Hakimi (2019) 127 quốc gia (81 nước thu nhập thấp/TB, 46 nước thu nhập cao) 2005–2015 PSTR Phi tuyến tính
8 Bordeleau & Graham (2010) Mẫu các ngân hàng lớn ở Hoa Kỳ và Canada 1975–2009 GMM Âm
9 Chowdhury & Zaman (2018) 6 ngân hàng Hồi giáo tại Bangladesh 2012–2016 OLS Âm
10 Nguyễn Thanh Phong (2020) 25 NHTM Việt Nam 2009–2019 OLS, FEM, REM Dương
11 Trần Thị Thanh Nga (2018) 171 ngân hàng từ 9 quốc gia ở Đông Nam Á 2004–2016 SGMM Dương (cả Việt Nam và Đông Nam Á)
12 Trần Huy Hoàng & Trần Thị Bích Loan (2020) 27 NHTM tại Việt Nam 2010–2020 OLS Dương
13 Ngô Thị Thanh Hằng (2021) 21 NHTM tại Việt Nam 2010–2020 FGLS Dương
14 Hồ Thanh Thủy (2017) Các NHTMCP Việt Nam 2008–2015 OLS Âm

Từ tổng quan, tác giả xác định hai khoảng trống nghiên cứu chính: hầu hết các nghiên cứu tại Việt Nam chưa xem xét đồng thời các biến vĩ mô (lạm phát, tăng trưởng kinh tế), và dữ liệu chưa cập nhật giai đoạn dịch bệnh Covid-19 (2019–2021).

Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày chi tiết quy trình nghiên cứu, mô hình kinh tế lượng đề xuất với hai biến phụ thuộc ROAA và ROAE, giải thích cách tính toán từng biến số và xây dựng các giả thuyết nghiên cứu (H1: rủi ro thanh khoản tác động cùng chiều đến hiệu quả hoạt động; H2: vốn tự có tác động cùng chiều; các giả thuyết về LLP, DEP, DIA, NPL, SIZE, GDP, INF). Chương này mô tả kỹ thuật thu thập số liệu thứ cấp từ báo cáo tài chính kiểm toán của 26 NHTMCP và cơ sở dữ liệu ADB, đồng thời quy định quy trình kiểm định khuyết tật mô hình và các kỹ thuật xử lý hồi quy dữ liệu bảng trên Stata 17.0.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 4 thể hiện kết quả phân tích thống kê mô tả, ma trận tương quan và kiểm tra hệ số phóng đại phương sai (VIF) nhằm khẳng định không có đa cộng tuyến nghiêm trọng. Tác giả tiến hành ước lượng lần lượt qua Pooled OLS, FEM và REM. Các kiểm định chẩn đoán sau hồi quy gồm Modified Wald và Wooldridge Test chỉ ra mô hình bị vi phạm giả định phương sai sai số thay đổi và tự tương quan. Do đó, tác giả thực hiện ước lượng FGLS để khắc phục hai khuyết tật trên và áp dụng phương pháp System GMM (SGMM) nhằm kiểm soát nội sinh. Kết quả thực nghiệm khẳng định khe hở tài trợ (FGAP) có tác động tích cực đến ROAA và ROAE ở mức ý nghĩa 1%. Tất cả các biến kiểm soát đều có tương quan đáng kể đến hiệu quả hoạt động, duy nhất quy mô ngân hàng (SIZE) không có ý nghĩa thống kê ở cả hai mô hình.

Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị

Chương 5 đúc kết các phát hiện định lượng chính, từ đó đưa ra hệ thống hàm ý chính sách và khuyến nghị thực tiễn: đối với bản thân các ngân hàng thương mại cổ phần (quản trị khe hở tài trợ an toàn, tăng vốn tự có, trích lập dự phòng hợp lý, đa dạng hóa nguồn thu qua thu nhập ngoài lãi, giám sát nợ xấu) và đối với cơ quan quản lý (Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước trong việc hoàn thiện khung pháp lý giám sát an toàn thanh khoản theo chuẩn Basel). Cuối cùng, chương 5 làm rõ các hạn chế tồn tại của đề tài và định hướng các nghiên cứu tiếp theo.


Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu thực nghiệm

  • Tác động của rủi ro thanh khoản: Khe hở tài trợ (FGAP) có mối quan hệ tích cực (cùng chiều) đối với cả tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản bình quân (ROAA) và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu bình quân (ROAE) với mức ý nghĩa thống kê 1% (p < 0.01). Điều này chứng minh rằng tại các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2011–2021, khi khe hở tài trợ dương (dư nợ tín dụng cao hơn huy động vốn so với tổng tài sản), ngân hàng chấp nhận rủi ro thanh khoản cao hơn nhưng được kiểm soát tốt, từ đó thúc đẩy tăng trưởng thu nhập lãi và gia tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh, phù hợp với lý thuyết đánh đổi rủi ro - lợi nhuận.
  • Tác động của các biến kiểm soát: Vốn tự có (CAP), dự phòng rủi ro tín dụng (LLP), tỷ lệ tiền gửi (DEP), thu nhập ngoài lãi (DIA), tỷ lệ nợ xấu (NPL) và các biến vĩ mô gồm tăng trưởng kinh tế (GDP), tỷ lệ lạm phát (INF) đều có mối tương quan có ý nghĩa thống kê đến hiệu quả hoạt động ngân hàng.
  • Biến không có ý nghĩa thống kê: Quy mô ngân hàng (SIZE - tính bằng logarit tự nhiên của tổng tài sản) không có ý nghĩa thống kê trong cả hai phương trình ước lượng biến phụ thuộc ROAA và ROAE.

Giải pháp và khuyến nghị tác giả đề xuất

  • Đối với các ngân hàng thương mại cổ phần:
    • Chủ động quản trị và kiểm soát mức khe hở tài trợ ở giới hạn an toàn, tối ưu hóa việc phân bổ vốn giữa các tài sản sinh lời cao và tài sản có tính thanh khoản nhanh nhằm vừa đảm bảo khả năng chi trả vừa tối đa hóa lợi nhuận.
    • Gia tăng tỷ lệ vốn tự có (CAP) để củng cố năng lực tài chính tự chủ và tạo niềm tin cho người gửi tiền.
    • Tối ưu hóa cơ cấu doanh thu bằng cách đẩy mạnh hoạt động dịch vụ nhằm gia tăng tỷ trọng thu nhập ngoài lãi (DIA), giảm thiểu sự phụ thuộc vào hoạt động tín dụng thuần túy.
    • Trích lập dự phòng rủi ro cho vay (LLP) đúng quy định và kiểm soát chặt chẽ tỷ lệ nợ xấu (NPL) theo phân loại tại Thông tư 02/2013/TT-NHNN để hạn chế tổn thất vốn.
  • Đối với Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước:
    • Tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý và lộ trình áp dụng các tiêu chuẩn giám sát thanh khoản theo chuẩn mực Basel.
    • Điều hành linh hoạt chính sách tiền tệ, theo dõi chặt chẽ biến động lạm phát và tăng trưởng kinh tế để có các biện pháp tái cấp vốn, hỗ trợ thanh khoản kịp thời cho hệ thống ngân hàng khi xảy ra các biến động bất thường.

Đóng góp khoa học và thực tiễn tự nêu

  • Cung cấp bằng chứng thực nghiệm cập nhật về mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản (thông qua khe hở tài trợ FGAP) và hiệu quả hoạt động tại các NHTMCP Việt Nam trong chuỗi dữ liệu 11 năm (2011–2021), bao quát cả giai đoạn dịch bệnh Covid-19.
  • Kế thừa và mở rộng mô hình nghiên cứu bằng việc kết hợp đồng thời các đặc tính nội tại của ngân hàng và các nhân tố kinh tế vĩ mô (GDP, lạm phát INF).
  • Áp dụng phối hợp nhiều phương pháp ước lượng kinh tế lượng (Pooled OLS, FEM, REM, FGLS, System GMM) nhằm kiểm soát triệt để các khuyết tật phương sai thay đổi, tự tương quan và hiện tượng nội sinh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận chỉ rõ các hạn chế và đề xuất hướng mở nghiên cứu dựa trên văn bản:

  • Hạn chế về cỡ mẫu: Nghiên cứu chỉ thực hiện trên mẫu 26 NHTMCP, loại bỏ 5 ngân hàng do không đảm bảo dữ liệu công bố kiểm toán đầy đủ và minh bạch, do đó chưa bao quát 100% các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam.
  • Hạn chế về thu thập chỉ số thanh khoản: Việc tính toán chỉ số khe hở tài trợ (FGAP) phụ thuộc vào mức độ minh bạch của báo cáo tài chính và thuyết minh báo cáo thường niên, trong khi một số ngân hàng chưa công bố đồng nhất các chỉ tiêu liên quan đến kỳ hạn tài sản.
  • Hạn chế về phạm vi thời gian: Dữ liệu dừng lại ở năm 2021, chưa đánh giá được các diễn biến thị trường tài chính và biến động thanh khoản trong giai đoạn phục hồi kinh tế hậu Covid-19 sau năm 2021.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng mẫu nghiên cứu cho toàn bộ các ngân hàng thương mại hoạt động tại Việt Nam (bao gồm ngân hàng thương mại nhà nước, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài) khi hệ thống dữ liệu được chuẩn hóa đầy đủ.
    • Kéo dài chuỗi thời gian nghiên cứu sau năm 2021 nhằm nắm bắt các tác động trong bối cảnh phục hồi kinh tế và chính sách tiền tệ mới.
    • Bổ sung và đối sánh thêm các chỉ số thanh khoản chuyên sâu khác theo Basel III cũng như kiểm tra mối quan hệ phi tuyến tính tiềm ẩn giữa rủi ro thanh khoản và hiệu quả hoạt động.

Giá trị tham khảo

Tài liệu này hữu ích đối với các nhóm đối tượng học thuật và thực tiễn sau:

  • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng: Dùng làm tài liệu tham khảo trực tiếp cho các đề tài khóa luận, luận văn liên quan đến rủi ro thanh khoản, hiệu quả kinh doanh ngân hàng hoặc cấu trúc vốn ngân hàng thương mại.
  • Người làm nghiên cứu định lượng kinh tế lượng tài chính: Tham khảo quy trình xây dựng mô hình dữ liệu bảng, phương pháp khắc phục khuyết tật phương sai sai số thay đổi và tự tương quan bằng FGLS, cũng như kỹ thuật xử lý biến nội sinh bằng phương pháp mô men tổng quát hệ thống (System GMM) trên phần mềm Stata 17.0.
  • Bộ phận quản trị rủi ro và quản trị tài chính tại các NHTMCP: Tham khảo các phát hiện định lượng về mức độ ảnh hưởng của khe hở tài trợ (FGAP), nợ xấu (NPL), dự phòng rủi ro cho vay (LLP) và thu nhập ngoài lãi (DIA) đến tỷ suất sinh lời ROAA và ROAE để xây dựng chính sách cân đối vốn nội bộ.

Các phần đáng tham khảo nhất trong khóa luận gồm: bảng tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước (Chương 2), hệ thống công thức giải thích biến và xây dựng giả thuyết (Chương 3), cùng quy trình kiểm định hồi quy dữ liệu bảng và thảo luận kết quả ước lượng SGMM (Chương 4).


Câu hỏi thường gặp

Khóa luận sử dụng chỉ số nào để đo lường rủi ro thanh khoản và lý do lựa chọn là gì? Tác giả sử dụng chỉ số khe hở tài trợ (FGAP), được xác định bằng công thức $\frac{\text{Dư nợ tín dụng} - \text{Tiền gửi khách hàng}}{\text{Tổng tài sản}} \times 100%$. Chỉ số này được lựa chọn vì nó phản ánh sự chênh lệch giữa tài sản Có và tài sản Nợ trong quá trình trung gian tài chính, dự báo được rủi ro thanh khoản có thể xảy ra trong tương lai và được chứng minh là phương pháp tối ưu, cơ bản trong các nghiên cứu thực nghiệm của Vodova (2013), Siaw (2013) và Đặng Văn Dân (2015).

Mẫu nghiên cứu gồm bao nhiêu ngân hàng và vì sao không lấy toàn bộ hệ thống NHTMCP? Mẫu nghiên cứu gồm 26 NHTMCP Việt Nam trong giai đoạn 2011–2021. Tính đến tháng 03/2022, Việt Nam có 31 NHTMCP theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước. Tác giả loại trừ 5 ngân hàng do không đảm bảo dữ liệu kiểm toán đầy đủ và minh bạch. Mẫu 26 ngân hàng được giữ lại chiếm gần 85% tổng số NHTMCP, đảm bảo quy mô đại diện cho hệ thống.

Kết quả nghiên cứu chỉ ra tác động của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả hoạt động như thế nào? Kết quả hồi quy thực nghiệm cho thấy khe hở tài trợ (FGAP) có tác động tích cực (cùng chiều) đến cả tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản bình quân (ROAA) và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu bình quân (ROAE) với mức ý nghĩa thống kê 1%. Điều này chứng minh rằng tại các NHTMCP Việt Nam, việc chấp nhận rủi ro thanh khoản ở mức cao nhưng được kiểm soát tốt giúp gia tăng hiệu quả hoạt động.

Biến kiểm soát nào trong mô hình không có ý nghĩa thống kê? Biến quy mô ngân hàng (SIZE - đo lường bằng logarit tự nhiên của tổng tài sản) là biến duy nhất không có ý nghĩa thống kê ở cả hai mô hình hồi quy với biến phụ thuộc ROAA và ROAE. Trong khi đó, các biến kiểm soát khác như vốn tự có (CAP), dự phòng rủi ro cho vay (LLP), tỷ lệ tiền gửi (DEP), thu nhập ngoài lãi (DIA), nợ xấu (NPL), tăng trưởng kinh tế (GDP) và lạm phát (INF) đều có ý nghĩa thống kê.

Tác giả đã sử dụng các kỹ thuật kinh tế lượng nào để khắc phục vi phạm mô hình? Sau khi phát hiện hiện tượng phương sai sai số thay đổi qua kiểm định Modified Wald và hiện tượng tự tương quan qua kiểm định Wooldridge trên các mô hình Pooled OLS, FEM và REM, tác giả đã sử dụng phương pháp bình phương bé nhất tổng quát khả thi (FGLS) để hiệu chỉnh. Đồng thời, tác giả áp dụng phương pháp mô men tổng quát hệ thống (System GMM) để kiểm soát hiện tượng nội sinh tiềm ẩn trong dữ liệu bảng.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Anh Thư đã phân tích thực nghiệm tác động của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả hoạt động của 26 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam giai đoạn 2011–2021. Thông qua việc áp dụng các phương pháp hồi quy dữ liệu bảng Pooled OLS, FEM, REM, FGLS và System GMM trên phần mềm Stata 17.0, nghiên cứu xác nhận khe hở tài trợ (FGAP) có tác động tích cực ở mức ý nghĩa 1% đến cả ROAA và ROAE khi rủi ro được kiểm soát hiệu quả. Công trình cung cấp hệ thống số liệu kiểm định chặt chẽ, đóng góp thêm bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và hiệu quả hoạt động ngân hàng tại thị trường Việt Nam, đồng thời đưa ra các khuyến nghị quản trị thiết thực cho các nhà quản lý ngân hàng và cơ quan điều hành chính sách tiền tệ.