chương 1, tác giả đã trình bày về vấn đề rủi ro thanh khoản đối với các ngân hàng cũng như tính cấp thiết, lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu này. Từ đó đưa ra các vấn đề cốt lõi để đặt nền móng để thực hiện đề tài như mục tiêu, câu hỏi, đối tượng, phạm vi, phương pháp, nội dung và ý nghĩa nghiên cứu ngoài ra còn có kết cấu của bài nghiên cứu. 7 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CƠ SỞ THỰC NGHIỆM VỀ THANH KHOẢN VÀ RỦI RO THANH KHOẢN Giới thiệu chƣơng 2 Tại chương 2 của bài nghiên cứu tác giả tổng hợp các cơ sở lý luận và lý thuyết làm nền tảng của nghiên cứu bao gồm lý thuyết về tính thanh khoản, vai trò của thanh khoản, khả năng thanh khoản (KNTK), lý cung – cầu thanh khoản và trạng thái thanh khoản ròng. Tiếp đến là lý thuyết về yếu tố chính của bài gồm khái niệm và phân loại RRTK, nguyên nhân và tác động của RRTK.
Ngoài ra chương 2 còn trình bày các nghiên cứu liên quan trước dùng làm cơ sở xây dựng mô hình cho nghiên cứu.1 Tính thanh khoản và khả năng thanh khoản Khái niệm Tính thanh khoản (Liquidity), là chỉ số thể hiện mức độ lƣu động hay tính lỏng của một loại tài sản ngẫu nhiên đƣợc thực hiện giao dịch trên thị trƣờng cũng nhƣ trong nền kinh tế và giá trị thị trƣờng của loại tài sản này không bị ảnh hƣởng nhiều. Hiểu đơn giản, tính thanh khoản của tài sản thể hiện khả năng quy đổi thành tiền của chính nó. Theo đó, loại tài sản có độ thanh khoản cao nhất là tiền, tiền có thể quy đổi giao dịch trên thị trƣờng nhanh chóng mà hầu nhƣ giá trị không thay đổi. Còn các loại tài sản khác nhƣ máy móc, vàng, bất động sản hay cổ phiếu sẽ có tính thanh khoản thấp hơn vì cần nhiều thời gian hơn để giao dịch hay quy đổi thanh tiền Theo Basel (2000) định nghĩa: "Khả năng thanh khoản của ngân hàng hay khả năng đáp ứng nguồn vốn cho sự tăng lên của tài sản có và thanh toán các khoản nợ khi đến hạn." 8 Theo Basel (2008): "Thanh khoản ngân hàng là khả năng ngân hàng có thể tài trợ việc gia tăng của tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ nợ đến hạn mà không gây ra những khoản tổn thất không thể chấp nhận đƣợc.
Đây là yếu tố cực kỳ quan trọng trong việc thể hiện khả năng hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng nhƣ đối với sự tồn tại của hầu hết các ngân hàng." Vì vậy thanh khoản đƣợc xem nhƣ một yếu tố cực kỳ quan trọng thể hiện uy tín trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng và quan hệ mật thiết đối với sự tồn tại của mọi ngân hàng. Từ các khái niệm trên, tính thanh khoản của ngân hàng có thể đƣợc hiểu là: Trong ngắn hạn, tính thanh khoản là khả năng thanh toán của ngân hàng khi các khoản nợ xảy ra. Trong dài hạn, tính thanh khoản đƣợc thể hiện ở khả năng vay đủ vốn dài hạn với lãi suất hợp lý để đảm bảo KNTT dài hạn, hỗ trợ tăng trƣởng tài sản. Nói chung, thanh khoản ngân hàng đề cập đến khả năng đáp ứng tất cả các nghĩa vụ thanh toán của ngân hàng ở mức tối đa có thể bằng một loại tiền tệ cụ thể.
Vai trò của thanh khoản Thanh khoản là một trong những chỉ số đóng vai trò quan trọng trọng lĩnh vực tài chính. Chỉ số này đƣợc đƣợc biệt quan tâm bởi các nhà đầu tƣ, các doanh nghiệp nên ngân hàng một trong những ngành chủ chốt của nền kinh tế cũng đặt biệt chú trọng và thanh khoản cũng đƣợc thể hiện ở những vai trò đối với các ngân hàng thƣơng mại nhƣ sau: - Đảm bảo sự ổn định của nền kinh tế: Việc góp phần ổn định nền kinh tế giúp hệ thống các ngân hàng nói chung cũng nhƣ các ngân hàng có một môi trƣờng phát triển thuận lợi bền vững, giúp nâng cao hiệu quả kinh doanh. Điều này làm giảm thiểu hiệu ứng domino khi một ngân hàng phá sản sẽ dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng. - Duy trì hoạt động của ngân hàng: Khi nguồn cung thanh khoản của một ngân hàng đảm bảo sẽ duy trì đƣợc hoạt động kinh doanh của ngân hàng không những thế một ngân hàng sở hữu nhiều tài sản có tính thanh khoản cao giúp nâng cao uy tín thu hút các doanh nghiệp, nhà đầu tƣ, khách hàng sử dụng dịch vụ của ngân hàng đó nâng cao lợi nhuận góp phần phát triển hoạt động kinh doanh.
9 Cung – cầu thanh khoản và trạng thái thanh khoản ròng Vấn đề thanh khoản xuất hiện khi một ngân hàng phải đối mặt với các vấn đề nhƣ giải ngân, chi trả các chi phí từ các nhà đầu tƣ hay khách hàng. Do đó, ngân hàng không chỉ cân đối giữa lƣợng phải chi trả với lƣợng tài sản đang có mà còn phải chú trọng vào khả năng huy động vốn trong tƣơng lai. Điều cần thiết để đánh giá trạng thái thanh khoản của một ngân hàng phải dựa vào sự tƣơng quan giữa cung thanh khoản và cầu thanh khoản ở từng khoảng thời gian cụ thể. - Cung thanh khoản Theo Peter S.
Rose (2001): "Cung thanh khoản là các khoản vốn cung cấp khả năng chi trả cho ngân hàng. Một ngân hàng có nguồn cung thanh khoản dồi dào sẽ luôn đáp ứng kịp thời các khoản chi trả, đây là nguồn cung cấp độ thanh khoản cho ngân hàng.Cung thanh khoản có thể là từ nguồn tiền có sẵn hoặc có thể huy động thông qua nhiều hoạt động khác nhau." - Cầu thanh khoản Cũng theo Peter S. Rose (2001): "Cầu thanh khoản là nhu cầu về vốn để duy trì hoạt động của ngân hàng, các khoản làm giảm nguồn quỹ, vốn của ngân hàng. Trong hoạt động kinh doanh, cầu thanh khoản đƣợc hình thành từ các nhu cầu nhƣ giải ngân hay thanh toán từ khách hàng thông qua nhiều hoạt động kể cả ngắn hạn và dài hạn.
1: Những hoạt động phổ biến hình thành nguồn cung - cầu thanh khoản của NHTM Cung thanh khoản Cầu thanh khoản Các khoản tiền gửi Khách hàng rút các khoản tiền gửi Doanh thu từ việc bán các Cung cấp các khoản tín dụng dịch vụ Thu hồi tín dụng đã cấp Hoàn trả các khoản vay phi tiền gửi 10 Bán tài sản Chi phí lãi vay Phát hành cổ phiếu Chi phí phát sinh cho hoạt động kinh doanh sản phẩm và dịch vụ Chi trả cổ tức cho cổ đông Mua lại các cổ phiếu quỹ (Nguồn: Rose (2004)) - Trạng thái thanh khoản ròng (Net Position Liquidity – NLP) Trạng thái thanh khoản ròng là sự chênh lệch giữa hai bên bao gồm dòng tiền vào là tổng các tài sản thanh khoản và dòng tiền ra là việc cho vay hay đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán đáo hạn. Trạng thái thanh khoản đƣợc xem nhƣ thƣớc đo của thanh khoản. Trạng thái thanh khoản ròng đƣợc tính bằng công thức nhƣ sau: NLP = Σcung thanh khoản - Σcầu thanh khoản Xảy ra 3 trƣờng hợp khi thực hiện xác định trạng thái thanh khoản ròng: Nếu NLP = 0, Trạng thái thanh khoản cân bằng: Trạng thái thanh khoản cân bằng gần nhƣ rất khó xảy ra trong thực tế, vì ở trạng thái này cung thanh khoản và cầu thanh khoản phải cân bằng với nhau. Nếu NPL > 0, Thặng dƣ thanh khoản: Thặng dƣ thanh khoản là trƣờng hợp xảy ra khi tổng cung thanh khoản của một ngân hàng lớn hơn cầu thanh khoản của ngân hàng đó, khi ở trạng thái này thì bên phái quản lý ngân hàng nên xem xét việc đầu tƣ sinh lời từ thặng dƣ của khoản tiền này Nếu NPL < 0, Thiếu hụt thanh khoản: Trƣờng hợp thiếu hụt thanh khoản xảy ra đồng nghĩa với việc tổng cung thanh khoản thấp hơn tổng cầu thanh khoản.
Trong tình huống này phía quản lý ngân hàng cần xem xét thu hút các nguồn để gia tăng bổ sung cầu thanh khoản (vì ý chí 11 của ngân hàng tƣơng đối độc lập với cầu thanh khoản, nên việc giảm cầu thanh khoản là không khả thi). Dù là trƣờng hợp thặng dƣ thanh khoản hay trƣờng hợp thiếu hụt thanh khoản đều thể hiện tình trạng ngân hàng mất cân bằng. Thặng dƣ thanh khoản là trƣờng hợp diễn ra thể hiện sự hoạt động kém của nền kinh tế, cơ hội đầu tƣ, kinh doanh khan hiếm. Thặng dƣ thanh khoản còn xảy ra do ngân hàng kém hiệu quả trong chiến lựơt đầu tƣ, kinh doanh hay trong việc tiếp cận với thị trƣờng, khách hàng.
Ngoài ra trƣờng hợp này còn xuất hiện khi ngân hàng khai thác thiếu hiệu quả những tài sản có khả năng sinh lời và việc nguồn vốn tăng nhanh hơn quy mô hay khả năng quản lý của ngân hàng. Tuy nhiên vẫn có các giải pháp để giảm thiểu tình trạng thặng dƣ thanh khoản ví dụ nhƣ: thực hiện cho vay trên thị trƣờng liên Ngân hàng hay dữ trữ thứ cấp bằng việc mua các chứng khoán Chính phủ. Thiếu hụt thanh khoản biểu hiện việc vốn của ngân hàng không đủ để duy trì hoạt động. Trình trạng này có thể gây ra các hậu quả cho ngân hàng nhƣ mất đi cơ hội kinh doanh, mất vị trí trong thị trƣờng, giảm lƣợng khách hàng, giảm uy tín ngân hàng và tệ hơn là ảnh hƣởng đến sự tồn tại và sự phát triển của ngân hàng.
Các biện pháp đƣợc thực hiện để bù đắp cho tình trạng thiếu hụt thanh khoản bao gồm: Vay qua đêm trên thị trƣờng ngân hàng, bán dự trữ thứ cấp, vay tái chiết khấu từ NHTW,…… 2.2 Rủi ro thanh khoản Khái niệm (Liquidity Risk) xảy ra khi cá nhân hoặc tổ chức, doanh nghiệp không thể đáp ứng đủ các nghĩa vụ nợ ngắn hạn của mình. Họ không thể chuyển tài sản họ có thành tiền mặt để trả nợ, bắt buộc phải bỏ vốn và thu nhập do thiếu ngƣời mua hoặc thị trƣờng không hiệu quả. Rủi ro thanh khoản ngân hàng là việc ngân hàng không thể chuyển đổi tài sản ra tiền mặt, không thể thực hiện các chức năng thanh toán, nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn, hoặc nếu có trả nợ đƣợc thì cũng phải trả mức phí cao hơn mức bình quân của thị trƣờng. Đây là một trong ba rủi ro nghiêm trọng nhƣng ngân hàng thƣơng mại nào cũng có thể gặp phải.
12 Nhƣ vậy RRTK đƣợc hiểu là rủi ro xảy ra khi ngân hàng thiếu khả năng thanh toán, không thu hồi tài sản kịp thời hoặc không vay đƣợc tiền để đáp ứng các hợp đồng thanh toán. Điều này có nghĩa là nếu một ngân hàng không còn đủ vốn cần thiết để đáp ứng những nhu cầu của thị trƣờng, thì ngân hàng đó có thể mất khả năng thanh toán.