PHẦN MỞ ĐẦU CHƯƠNG II : CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM LIÊN QUAN CHƯƠNG III : MÔ HÌNH, PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU CHƯƠNG IV : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN CHƯƠNG V : KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 6 CHƯƠNG II CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM LIÊN QUAN 2.1 Khái quát các loại rủi ro của ngân hàng thương mại Để hiểu rõ các vấn đề liên quan đến RRTD, chương này bắt đầu bằng việc tổng hợp sơ lược về các loại RR của NHTM. Và RRTD được xếp vào loại “ RR tài chính phi thị trường”. “NHTM là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán, và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ tổ chức tài chính nào trong nền kinh tế” theo Peter Rose (Commercial Bank Management). Theo Điều 4, khoản 3 - Luật các TCTD, văn bản bổ sung sửa đổi số 07/VBHN-VPQH ngày 12 tháng 12 năm 2017 thì “NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các TCTD nhằm mục tiêu lợi nhuận”; Và theo Điều 4, khoản 12 Luật các TCTD thì “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ như: Nhận tiền gửi; Cấp tín dụng; Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”.
Theo đó, NHTM thực hiện các vai trò và chức năng sau: (i) Một trung gian tài chính (huy động vốn để cho vay, đầu tư; (ii) Là trung gian thanh toán (giao dịch tài khoản giữa các khách hàng); (iii) Như là người bảo lãnh (tín dụng, dự thầu, phát hành chứng khoán; (iv) Là một kênh thực hiện điều tiết tài chính, tiền tệ, ngân hàng của Chính phủ. Theo cách phân loại RR tài chính, bao gồm RR thị trường và RR phi thị trường thì các RR thị trường dưới tác động thay đổi của tỷ giá gồm có: RR lãi suất; RR tỷ giá; RR chứng khoán và RR hàng hóa. Và RR phi thị trường gồm có RR tín dụng: với tác động gây giảm thứ hạng tín dụng, gây nguy cơ vỡ nợ; và RR thanh khoản tạo ra nguy cơ không đáp ứng được tức thời các nghĩa vụ tài chính. Qua đó, RRTD thực chất được xếp vào loại RR phi thị trường.
7 Trong hoạt động của NHTM, các nội dung dịch vụ cung cấp như trên luôn có mối quan hệ hỗ tương lẫn nhau trong việc sử dụng luân chuyển tuần hoàn nguồn vốn huy động để cho vay đến khách hàng. Và cấp tín dụng ngân hàng là hoạt động luôn chiếm tỷ trọng cao trong danh mục các hoạt động kinh doanh có sử dụng nguồn vốn của NHTM, đồng thời dịch vụ cung cấp tín dụng cũng tạo lợi nhuận kinh doanh nguồn vốn lớn nhất và là hoạt động mang nhiều RR nhất có thể dẫn đến việc làm cạn kiệt nguồn vốn và phá sản ngân hàng nếu không quản lý tốt các RRTD trong suốt quá trình diễn tiến của hoạt động kinh doanh NHTM. Cấp tín dụng Tín thác Thanh toán NGÂN Môi giới HÀNG Tiết kiệm HIỆN ĐẠI 000 Ngân hàng đầu tư 0 Bảo hiểm Quản lý ngân quỹ Hình 2.1: Các chức năng của ngân hàng thương mại hiện đại Nguyễn Văn Tiến; Nguyễn Mạnh Hùng (2017) \ CÁC RỦI RO CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (1) (2) (3) (4) (5) (6) RR RR RR RR RR RR thanh mất tín lãi thị thu khoản khả dụng suất trường nhập năng chi trả Hình 2.2: Các rủi ro chính trong hoạt động ngân hàng thương mại Nguyễn Văn Tiến; Nguyễn Mạnh Hùng (2017) 8 RR là yếu tố không tránh khỏi trong nền kinh tế thị trường và NHTM không miễn nhiễm với RR. Các RR chính của hoạt động kinh doanh NHTM bao gồm các loại sau: (1) RR tín dụng; (2) RR thanh khoản; (3) RR lãi suất; (4) RR thị trường; (5) RR thu nhập; (6) RR mất khả năng chi trả.
Bên cạnh đó, NHTM phải đối diện với các RR khác trong hoạt động mà được phân loại như sau:(1) RR lạm phát; (2) RR tỷ giá; (3) RR chính trị; (4) RR tội phạm; (6) RR quốc gia. CÁC RỦI RO KHÁC TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (1) (2) (3) (4) (5) RR RR RR RR RR lạm tỷ chính tội quốc phát giá trị phạm gia Hình 2.3: Các rủi ro khác trong hoạt động ngân hàng thương mại Nguyễn Văn Tiến; Nguyễn Mạnh Hùng (2017) Một trong các RR trên diễn ra ra sẽ làm ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động kinh doanh của NHTM như: về thương hiệu của NHTM, độ tin cậy của khách hàng đối với NHTM, khả năng thanh khoản của NHTM. Trước rất nhiều những khả năng RR có thể xảy ra trong kinh doanh tín dụng có tính chất sống còn của NHTM, việc nghiên cứu chi tiết các nhân tố tác động đến RRTD NHTM được thực hiện từ bước nghiên cứu lý thuyết đến bước phân tích số liệu.2 Rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm Thực tế đã có rất nhiều cách định nghĩa về RRTD, cụ thể như: Anthony Sauders (2007) định nghĩa: RRTD là “khoản lỗ tiềm năng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản vay của ngân hàng không thể được thực hiện cả về số lượng và thời hạn”. Koch (2006): RRTD là “sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá khi khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn”.
9 Theo khoản 1 điều 3 Thông tư số 02/2013/TT-NHNN: RRTD là “tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Ngoài ra, RRTD NHTM là sự xuất hiện những biến cố không bình thường xảy ra trong quan hệ tín dụng, dẫn đến việc gia tăng nợ xấu, có thể làm mất thanh khoản tại từng ngân hàng và dẫn đến nhiều RR trong việc luân chuyển vốn từ nguồn tiền gửi huy động sang vốn cho vay. Các RRTD không thu hồi được vốn cho vay và tiền lãi kéo theo RR mất cân đối giữa dòng tiền vốn thu vào từ tiền gửi tiết kiệm và các khoản thu trong hoạt động kinh doanh của NHTM với dòng tiền vốn chi ra cho hoạt động kinh doanh tín dụng và các khoản chi trong hoạt động kinh doanh của NHTM. Các RR mất cân đối giữa dòng vốn thu vào và dòng vốn chi ra dẫn đến xuất hiện nhiều RR khác ảnh hưởng đến uy tín ngân hàng, tác động vào sự tin cậy trong tâm lý khách hàng gửi tiền cũng như các khách hàng có giao dịch tại ngân hàng, đồng thời gây ra các hậu quả xấu trong quá trình kinh doanh tại các ngân hàng.
Tóm lại, RRTD xảy ra khi “khách hàng vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ (bao gồm lãi vay và gốc) hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng như đã cam kết trong hợp đồng tín dụng. Đây là RR gắn liền với hoạt động tín dụng, dẫn đến tổn thất tài chính như giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn”.2 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng Hình 2.4: Các loại rủi ro tín dụng ngân hàng thương mại Nguyễn Văn Tiến; Nguyễn Mạnh Hùng (2017) Về mặt khách quan, môi trường vĩ mô: được đề cập với mô hình PEST 10 Thứ nhất, RR do môi trường chính trị và pháp luật (Political): Trước tình hình môi trường kinh doanh trong nước chịu sự ảnh hưởng lan tỏa, việc tạo ra một cơ chế điều hành tài chính, tiền tệ, ngân hàng linh hoạt, kịp thời và an toàn là điều cần thiết như chính sự đòi hỏi của thực tế phát sinh. Một hành lang pháp lý hoàn thiện, chặt chẽ, thiết thực, hữu hiệu để định hướng, vận hành và giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình phát triển cũng luôn cần những sự điều chỉnh cập nhật với từng giai đoạn khác nhau trong tiến trình phát triển chung. Môi trường pháp lý toàn diện và hiệu quả với các qui tắc, chuẩn mực, qui định… minh bạch, sâu sát với các văn bản thực thi theo pháp luật thực sự cần thiết có những sự bãi bỏ, điều chỉnh, bổ sung cập nhật kịp thời những điều khoản, chương mục đã không còn phù hợp, thay vào đó là những qui định và hướng dẫn thực hiện tốt hơn, rõ ràng, thông thoáng hơn theo các Thông tư, Nghị định, Luật qui định cho giai đoạn phát triển mới.
Điều này cũng không nằm ngoài mục tiêu nhằm phát huy hết tính năng điều tiết kinh tế, quản lý nhà nước bằng pháp luật trong mọi hoạt động kinh tế và đặc biệt đối với hoạt động của ngành tài chính ngân hàng. Với những qui định trong nhiều lĩnh vực khác nhau của tổng thể các qui định pháp luật, vẫn có các sự chồng chéo giới hạn xử lý công việc do thời điểm ban hành và các văn bản ở từng ngành có những sự đặc biệt khác nhau. Các văn bản đôi khi có sự mâu thuẫn và làm cho việc xử lý công việc theo qui định gặp khó khăn. Đối với hoạt động tín dụng ngân hàng, đôi khi các gúc mắc xảy ra trong giải quyết về nợ xấu, tài sản đảm bảo là bất động sản, một số khía cạnh giải quyết công việc chưa được pháp luật qui định chi tiết cụ thể dẫn đến khó khăn trong quá trình kiểm tra, giám sát và giải quyết tranh chấp về tài sản đảm bảo, nợ xấu, … Thứ hai, RR do môi trường kinh tế (Economics): Sự khủng hoảng của kinh tế trong và ngoài khu vực, chiến tranh cục bộ diễn ra ở một số nước, dịch bệnh lan rộng toàn cầu…đã tạo ra các tác động liên đới đối với kinh tế trong và ngoài khu vực.
Có những RR phát sinh do tính chu kỳ của nền kinh tế. Thêm vào đó, có những RR do sự biến động quá nhanh của thị trường thể hiện qua những biến số kinh tế như lãi suất, lạm phát, tỷ giá…có tác động đến khách hàng của NHTM, và dưới tác động của kinh tế thế giới, các NHTM trong nước không kịp dự đoán được. Thêm vào đó, nền kinh tế Việt Nam vẫn còn lệ thuộc quá nhiều vào sản xuất nông nghiệp, hơn nữa công nghiệp phục vụ cho nông nghiệp nên khi chịu ảnh hưởng xấu của thị trường thế giới làm cho giá cả các mặt hàng thiết yếu nhập khẩu có biến động cũng tạo ra những bất ổn nhất định.