Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu. Chương này nêu ra lý do nghiên cứu, “ mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, và ý nghĩa của đề tài nghiên cứu .” Chương 2: “Cơ sở lý thuyết về rủi ro tín dụng và mô hình nghiên cứu. Chương này tìm hiểu về các vấn đề liên quan tới rủi ro tín dụng của khách hàng cá nhân. Nội dung chương nêu lên tổng quan về cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trong nước và trên thế giới” Chương 3: “Phương pháp nghiên cứu.
Mục đích của chương mô tả mô hình nghiên cứu, đưa ra các giả thiết nghiên cứu, giải thích các biến số trong mô hình và dữ liệu nghiên cứu” Chương 4: “Kết quả nghiên cứu. Chương này đưa ra một số phân tích tín dụng cá nhân tại ACB - Chi nhánh Bình Dương, các kết quả phân tích thống kê mô tả, phân tích tương quan và phân tích hồi quy đồng thời đưa ra các nhận xét trong quá trình phân tích” Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị. Chương này nêu lên các kết “ luận rút ra từ quá trình phân tích đồng thời đưa ra hàm ý quản trị đối với các đối tượng liên quan dựa trên các kết luận đã nêu. Chương 5 cũng nêu lên những hạn chế của đề tài trong quá trình nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.
” 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO TÍN DỤNG 2.1 Cơ sở lý thuyết về rủi ro tín dụng 2.1 Khái niệm về rủi ro tín dụng “Có nhiều khái niệm khác nhau về RRTD: Theo Timothy W. Koch (1995): RRTD là sự rủi ro tiềm ẩn của thu nhập thuần và trị giá của vốn tín dụng xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn. Fitch (1997): “RRTD là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ. Cùng với rủi ro lãi suất, RRTD là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay của ngân hàng” “ Theo Ủy ban giám sát Basel (BCBS), RRTD là khả năng mà người đi vay hoặc đối tác của ngân hàng thất bại trong việc thực hiện theo các điều khoản trả nợ đã thỏa thuận.
RRTD còn được gọi là rủi ro vỡ nợ, phát sinh từ việc không chắc chắn liên quan đến việc không hoàn trả các khoản nợ từ phía khách hàng cho ngân hang. ” “ RRTD có thể đo lường bằng 2 cách: khả năng vỡ nợ của đối tác trong quan hệ tín dụng với ngân hàng và số tiền mà ngân hàng mất đi khi vỡ nợ xảy ra. Vỡ nợ thường xuyên xảy ra bởi vì sự mất mát trong thu nhập và kinh doanh thất bại của khách hàng. Nhưng nhiều khi đối tác cũng cố ý không trả nợ khi họ vẫn có có thu nhập đầy đủ.
RRTD cũng có thể bắt nguồn từ sự suy giảm giá trị tài sản, sự suy thoái trong danh mục đầu tư hoặc chất lượng tín dụng cá nhân bị suy giảm. ” “ Tại Việt Nam theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của NHNN Việt Nam Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cho rằng : RRTD ” “ trong hoạt động ngân hàng (sau đây gọi tắt là rủi ro) là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng 8 không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết .2 Phân loại rủi ro tín dụng “ Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, RRTD được chia làm thành 2 loại là rủi ro giao dịch (Transaction risk) và rủi ro danh mục (Portfolio risk) : ” - Rủi ro giao dịch: Là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân là do “ những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ .” + Rủi ro lựa chọn là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân “ tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để quyết định cho vay. ” + Rủi ro bảo đảm phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều “ khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo.
” + Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay “ và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật quản lý các khoản cho vay có vấn đề. ” - Rủi ro danh mục: Là một hình thức của rủi ro tín dụng mà những “ nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng được chia thành 2 loại: Rủi ro nội tại (Intrinsic risk) và rủi ro tập trung (Concentration risk). ” + Rủi ro nội tại là rủi ro xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, “ mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ các đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn.
” + Rủi ro tập trung là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho quá “ nhiều đối với một khách hàng, cho vay quá nhiều khách hàng hoạt động trong 9 cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế hoặc trong cùng một lĩnh vực địa lý nhất định hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao .” - Các hình thức của rủi ro tín dụng: Rủi ro tín dụng có thể xảy ra ở 4 “ trường hợp đối với nợ lãi và nợ gốc: Đó là việc không thu được lãi đúng hạn hoặc không thu đủ lãi, không thu được vốn đúng hạn hoặc không thu đủ vốn. Tùy trường hợp mà ngân hàng hạch toán vào các khoản mục theo dõi khác nhau như lãi treo hoặc nợ quá hạn .” + Khi không thu được lãi đúng hạn, nguy cơ rủi ro đang ở mức thấp và “ chỉ cần đưa vào mục lãi treo phát sinh. Nếu ngân hàng không thể thu đủ lãi thì sẽ có khoản mục lãi treo đóng băng, trừ những trường hợp ngân hàng miễn giảm khoản lãi đó cho khách hàng. ” + Còn không thu được vốn đúng hạn, ngân hàng sẽ có khoản nợ quá “ hạn phát sinh.
Tuy nhiên, khoản này vẫn chưa thể coi là khoản mất mát hoàn toàn của ngân hàng vì có thể vì lý do nào đó, khách hàng chậm trả nợ gốc và sẽ trả sau hạn cam kết trong hợp đồng. Nếu như khoản này ngân hàng không thể thu hồi được thì lúc này ngân hàng coi như gặp rủi ro tín dụng ở mức độ cao vì đã phát sinh khoản nợ không có khả năng thu hồi, trừ trường hợp đặc biệt, khách hàng vay vốn hội tụ đủ các điều kiện theo qui định về xóa nợ thì ngân hàng có thể xem xét để xóa nợ cho khách hàng. ” “ Rủi ro tín dụng tồn tại dưới nhiều hình thức, các hình thức đó luôn chuyển biến cho nhau, mà mức độ cuối cùng là nợ không có khả năng thu hồi. Khi nghiên cứu về rủi ro tín dụng người ta thường chú trọng vào các nguy cơ xảy ra rủi ro như lãi treo và đặc biệt là nợ phát sinh, còn lãi treo đóng băng và nợ quá hạn không có khả năng thu hồi được coi là các tình huống rủi ro thực sự nên thường được xem xét để giải quyết hậu quả và rút ra bài học .3 Đặc điểm của rủi ro tín dụng “ Để chủ động phòng ngừa rủi ro tín dụng có hiệu quả và nhận biết các đặc điểm của rủi ro tín dụng là rất cần thiết và hữu ích.
Rủi ro cấp tín dụng có những đặc điểm cơ bản sau : ” 10 - Rủi ro tín dụng mang tính chất gián tiếp: đặc điểm này xuất phát từ “ nguyên nhân là trong quan hệ tín dụng, ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng trong một thời gian nhất định nên những thiệt hại, thất thoát về vốn xảy ra trước hết là trong quá trình sử dụng vốn của khách hàng. Biểu hiện rõ ràng của đặc điểm này là trong thực tế, ngân hàng thường là phát hiện sau cũng như không có những thông tin đầy đủ và chính xác về những khó khăn, thất bại trong hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng có thể gây ra rủi ro tín dụng. Vì vậy, việc xác định sớm các khoản nợ có vấn đề là rất quan trọng đối với CBTD, cần phải giám sát liên tục tình hình tài chính của các cá nhân có phát sinh quan hệ tín dụng và đòi hỏi CBTD phải thường xuyên liên lạc với họ để có thông tin cập nhật, thẩm định và phân tích khả năng trả nợ của người vay. ” “ Từ đặc điểm này, cho thấy muốn phòng ngừa và hạn chế RRTD đạt hiệu quả cần tập trung nghiên cứu kỹ các thông tin về khách hàng, thiết lập hệ thống thông tin theo dõi dấu hiệu rủi ro, xây dựng và đảm bảo mối quan hệ minh bạch giữa cán bộ tín dụng và khách hàng vay vốn .” - Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp: đây là đặc điểm tất “ yếu của RRTD, do đặc trưng ngân hàng là trung gian tài chính kinh doanh tiền tệ.
Đặc điểm này cũng là hệ quả của đặc điểm thứ nhất vì mối liên hệ gián tiếp với RRTD khiến sự đa dạng và phức tạp của RRTD ngân hàng càng thể hiện rõ hơn. Nhận thức và vận dụng quan điểm này, khi thực hiện phòng ngừa rủi ro cần áp dụng đồng bộ nhiều biện pháp, không chủ quan với bất cứ một dấu hiệu rủi ro nào để đưa ra biện pháp cho phù hợp. ” - Rủi ro tín dụng có tính tất yếu: vì nó luôn luôn gắn liền với sự vận “ động của nền kinh tế thị trường và gắn liền với hoạt động tín dụng của NHTM. Ngân hàng chấp nhận rủi ro là tất yếu trong hoạt động ngân hàng.
Nếu mức độ rủi ro mà ngân hàng gánh chịu và kiểm soát được, nằm trong phạm vi khả năng nguồn lực tài chính và năng lực tín dụng thì đây là hoạt động tốt của ngân hàng .