Chương 1: Tổng quan nghiên cứu. Chương này nêu ra lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Chương này trình bày cơ sở lý thuyết liên quan đến nội dung nghiên cứu, tổng hợp các nghiên cứu trước và đưa ra các giả thuyết nghiên cứu phù hợp với thị trường chứng khoán Việt Nam.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu, dữ liệu và mô hình nghiên cứu. Chương này trình bày chi tiết về dữ liệu nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, giải thích các biến nghiên cứu trong mô hình, các tính toán các biến và quy trình nghiên cứu của luận văn. Chương 4: Phân tích dữ liệu và kết quả nghiên cứu. Chương này nhằm trình bày các kết quả đạt được và đưa ra các nhận xét trong quá trình phân tích.
Từ đó làm cơ sở cho việc đưa ra các kết luận. Chương 5: Kết luận và kiến nghị. Chương này nhằm nêu lên các kết luận rút ra từ quá trình phân tích đồng thời gợi ý các chính sách kinh tế từ kết quả nghiên cứu. Đồng thời nêu lên những hạn chế của đề tài trong quá trình nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.
4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Thanh khoản cổ phiếu 2.1 Định nghĩa thanh khoản cổ phiếu Thanh khoản được định nghĩa là khả năng chuyển đổi một tài sản hay cổ phiếu thành tiền mặt mà không làm ảnh hưởng hoặc có ảnh hưởng rất ít đến giá trị của tài sản hay cổ phiếu đó. Theo Amihud (2002) tính thanh khoản của chứng khoán là việc dễ dàng mua đi bán lại một chứng khoán. Một tài sản có tính thanh khoản cao thường được đặc trưng bởi khối lượng giao dịch lớn. Khả năng thanh khoản chính là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán với các nhà đầu tư.
Nhờ có thị trường chứng khoán các nhà đầu tư có thể chuyển đổi chứng khoán mà họ sở hữu thành tiền mặt. Nhà đầu tư sẽ cảm thấy an tâm hơn khi bỏ vốn vào những tài sản có tính thanh khoản cao thay vì những tài sản kém thanh khoản vì đặc tính này sẽ giúp họ dễ dàng thu hồi lại tiền từ đầu tư của mình. Điều này rất quan trọng để nhà đầu tư thực hiện nhanh chóng các quyết định thu hồi vốn từ các danh mục đầu tư hiện hữu với chi phí thấp nhất. Việc để bán một chứng khoán kém thanh khoản là rất khó, thậm chí có khi là không thể bán được trừ khi chấp nhận bán tháo với giá rất thấp.
Như vậy một tài sản hay chứng khoán thanh khoản kém sẽ gánh chịu mức rủi ro cao hơn. Theo lý thuyết về lợi nhuận và rủi ro thì các tài sản như vậy nhà đầu tư sẽ yêu cầu mức suất sinh lời cao để bù lại cho phần rủi ro gánh chịu, nghĩa là giữa tỷ suất sinh lời và thanh khoản phải có mối quan hệ nghịch biến. Theo Harris (1990), thanh khoản cổ phiếu có bốn đặc tính cơ bản sau: Độ chặt: là khả năng mua hoặc bán một lượng cổ phiếu nhất định ở một mức giá tương đương tại cùng một thời điểm. Đặc tính này thể hiện chi phí liên quan đến giao dịch và được đo lường qua chênh lệch giữa giá hỏi mua và giá chào bán.
Độ sâu: thể hiện qua số lượng cổ phiếu được giao dịch tại mỗi mức giá giữa giá hỏi mua và giá chào bán 5 Thời gian giao dịch: là khả năng thực hiện một giao dịch ngay lập tức tại một mức giá phổ biến. Đặc tính này có thể đo lường bởi thời gian chờ đợi giữa các giao dịch liên tiếp hoặc bởi số lượng giao dịch trên mỗi đơn vị thời gian. Tính đàn hồi: là khả năng phục hồi nhanh chóng lại mức giá cũ sau khi cổ phiếu bị biến động mạnh. Như vậy, một cổ phiếu được đánh giá là có tính thanh khoản trên thị trường khi nó chênh lệch giá thấp, có khối lượng giao dịch lớn, có thời gian giao dịch ngắn và sai lệch của các chênh lệch giá được điều chỉnh lại một cách nhanh chóng.
Các thành phần này không tồn tại độc lập mà tương tác qua lại, ảnh hưởng nhau quyết định tính thanh khoản của cổ phiếu.2 Các phương pháp đo lường thanh khoản cổ phiếu Các nghiên cứu trước giới thiệu nhiều chỉ tiêu để đo lường thanh khoản cổ phiếu. Cụ thể, nghiên cứu này tóm lược một số tiêu chí đo lường phổ biến như sau: • Chênh lệch giữa giá hỏi mua và giá chào bán (bid-ask spread) Theo Amihud & Mendelson (1986) một trong những thước đo tốt nhất và cổ điển nhất của tính thanh khoản là chênh lệch giữa giá hỏi mua và giá chào bán (bid- ask spread). Bằng cách so sánh chênh lệch giá mua, giá bán giữa các công ty khác nhau để thu thập thông tin về tính thanh khoản. Nếu chênh lệch này nhỏ thì tài sản không những dễ bán mà tổng khối lượng giao dịch thường rất lớn nên lệnh mua hay bán của một cá nhân thường không làm ảnh hưởng đến giá cả thị trường.
• Tỷ lệ thanh khoản (LR) Theo Amihud và cộng sự (1997), thước đo chênh lệch giữa giá hỏi mua và giá chào bán lại không có sẵn trong các thị trường mới nổi. Ông đo lường thanh khoản thông qua tỷ lệ thanh khoản (LR). LR liên quan tới sự thay đổi đơn vị trong giá chứng khoán, LR cao hơn ngụ ý thanh khoản thị trường lớn hơn. 100| 𝑝𝑖(𝑑−1) 6 trong đó VKid là khối lượng giao dịch hằng ngày, Rid là tỷ suất sinh lợi của chứng khoán i vào ngày d.
Mục đích chính của ước lượng này là giải thích khối lượng giao dịch khi có 1% thay đổi trong giá chứng khoán hoặc so sánh khối lượng giao dịch với những thay đổi tuyệt đối trong giá chứng khoán tại một thời kỳ nào đó. Nói cách khác là khối lượng chứng khoán cần thiết giao dịch để làm giá chứng khoán tăng hoặc giảm 1%. • Khối lượng giao dịch (Trading Volume) Ngoài ra để ước lượng tính thanh khoản trong các thị trường mới nổi, nhiều học giả đã đưa ra những cách thức đo lường khác nhau. Trong đó, theo Campbell và cộng sự (1992) phương pháp đo lường phổ biến nhất là sử dụng các tỷ số khối lượng giao dịch (Trading Volume) và coi yếu tố này là một chỉ báo cho tính thanh khoản của cổ phiếu trên thị trường.
Ông cho rằng khối lượng giao dịch trong quá khứ có thể cung cấp thông tin quan trọng về chứng khoán. Chứng khoán có tỷ số khối lượng giao dịch càng lớn thì tính thanh khoản càng cao. 𝑇𝑟𝑎𝑑𝑒𝑑 𝑆ℎ𝑎𝑟𝑒𝑠𝑡 𝐿𝐼𝑄𝑡 = 𝑁 với Traded Sharest là tổng khối lượng cổ phiếu giao dịch trong năm t, N là số ngày giao dịch trong năm. • Tỷ lệ giữa khối lượng cổ phiếu giao dịch so với số lượng cổ phiếu đang lưu hành (turnover) Nghiên cứu của Datar và cộng sự (1998) kiểm tra vai trò của thanh khoản đối với giá cổ phiếu với đại diện mới cho tính thanh khoản là tỷ lệ giữa số lượng cổ phiếu giao dịch chia cho số lượng cổ phiếu đang lưu hành (turnover).
Tương tự Lo & Wang (2000) cũng sử dụng turnover để đo lường tính thanh khoản trong các nghiên cứu. Tuy nhiên giá trị này được gọi là tổng lượng giao dịch (aggregate turnover AT). Giá trị chỉ số này càng cao thì tính thanh khoản càng lớn và ngược lại. 𝑇𝑟𝑎𝑑𝑒𝑑 𝑆ℎ𝑎𝑟𝑒𝑠𝑡 𝐿𝐼𝑄𝑡 = 𝑇𝑜𝑡𝑎𝑙 𝑆ℎ𝑎𝑟𝑒𝑠 7 với Traded Sharest là tổng khối lượng cổ phiếu giao dịch trong năm t, Total Share là tổng số cổ phiếu đang lưu hành bình quân trong năm của công ty.
• Tỷ lệ giữa khối lượng cổ phiếu giao dịch bình quân trong năm so với khối lượng cổ phiếu lưu hành Tính thanh khoản cổ phiếu được Muñoz (2013) đo lường như sau: 𝑇𝑟𝑎𝑑𝑒𝑑 𝑆ℎ𝑎𝑟𝑒𝑠𝑡 𝐿𝐼𝑄𝑡 = 𝑁 × 𝑇𝑜𝑡𝑎𝑙 𝑆ℎ𝑎𝑟𝑒𝑠 với Traded Sharest là tổng khối lượng cổ phiếu giao dịch trong năm t, N là số ngày giao dịch trong năm, Total Share là tổng số cổ phiếu đang lưu hành bình quân trong năm của công ty. • Tỷ lệ giữa giá trị vốn hóa của chứng khoán và số lượng cổ phiếu công ty Ranaldo (2000) ước lượng tính thanh khoản bằng giá trị vốn hóa của chứng khoán và số lượng cổ phiếu mà công ty sở hữu. (𝐼 − 𝐼𝑐 ) trong đó (I – Ic) đại diện cho sự khác biệt giữa tổng số cổ phiếu và số lượng cổ phiếu thuộc sở hữu của công ty, pn là giá và vn là số lượng chứng khoán trong giao dịch n. • Tỷ lệ của giá trị tuyệt đối tỷ suất sinh lợi chứng khoán trên khối lượng giao dịch (ILLIQ) Một thước đo tính thanh khoản khác của Amihud (2002) là ILLIQ.
ILLIQ cho thấy tác động của cả 2 yếu tố: giá và khối lượng giao dịch của cổ phiếu. ILLIQ đo lường sự thay đổi trong giá của cổ phiếu trên 1 đơn vị khối lượng giao dịch và được tính bằng cách lấy trung bình cộng của giá trị tuyệt đối của TSSL cổ phiếu giao dịch hằng ngày trên khối lượng giao dịch tính bằng tiền trong ngày đó. 𝐷𝑖𝑦 1 𝐿𝐼𝑄4𝑖𝑦 = ∑ |𝑅𝑖𝑑𝑦 |⁄𝑉𝐾𝑖𝑑𝑦 𝐷𝑖𝑦 𝑡=1 8 trong đó Ridy là tỷ suất sinh lợi của chứng khoán i vào ngày d của năm y, VKidy là khối lượng giao dịch tính bằng tiền của chứng khoán i vào ngày d của năm y (bằng pid x qid), Diy là số ngày trong đó dữ liệu là sẵn có cho chứng khoán i trong năm y. Giá cổ phiếu càng ít biến động so với khối lượng cổ phiếu giao dịch thì chỉ số kém thanh khoản càng thấp và do đó thanh khoản cổ phiếu càng cao và ngược lại.2 Biến động lợi nhuận cổ phiếu Bên cạnh thanh khoản, biến động lợi nhuận được cho rằng có tác động đến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu.
Theo nghiên cứu của Ruiz và cộng sự (2012), biến động trên thị trường tài chính được định nghĩa là mức độ biến động giá của tài sản theo thời gian. Khositkulporn (2013) cho rằng biến động là một thước đo cho thấy khuynh hướng của giá chứng khoán sẽ thay đổi như thế nào trong một khoảng thời gian. Biến động có thể quan sát bằng cách nhìn vào những thay đổi trong quá khứ của giá cổ phiếu. Quan điểm của biến động không quan tâm đến việc khi ta nhìn vào cổ phiếu ta thấy giá cổ phiếu đó tăng hay giảm mà chỉ có thể kết luận sự thay đổi về giá của cổ phiếu là nhiều hay ít hơn.
Nếu giá của một cổ phiếu thay đổi càng nhiều thì độ biến động càng cao và ngược lại. Trên thị trường tài chính, mức độ biến động lợi nhuận được đo lường bằng độ lệch chuẩn của lợi nhuận. Mức độ biến động càng cao thì độ lệch chuẩn càng lớn và dó đó rủi ro càng cao.