Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Mô hình nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Khái niệm và đặc điểm về vốn huy động 2.1 Khái niệm Theo Nguyễn Đăng Dờn (2011),vốn huy động là tài sản bằng tiền của các tổ chức và các nhân mà ngân hàng đang tạm thời quản lý và sử dụng, với trách nhiệm hoàn trả, vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu và quan trọng nhất của bất kỳ một ngân hàng thương mại nào. Vốn huy động là vốn đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của ngân hàng. Ngân hàng mua quyền sử dụng các khoản vốn của khách hàng trong một thời gian nhất định và có trách nhiệm hoàn trả số vốn đó theo đúng kế hoạch.2 Đặc điểm Vốn huy động trong ngân hàng thương mai chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của NHTM. Các NHTM hoạt động được chủ yếu nhờ vào nguồn vốn này.
Vốn huy động là một nguồn vốn không ổn định, vì khách hàng có thể rút tiền của họ mà không bị ràng buộc – chính vì đặc điểm này, các NHTM cần duy trì một khoản “dự trữ thanh khoản” để sẳn sàng đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng. Có chi phí sử dụng vốn tương đối cao và chiếm tỷ trọng chi phí đầu vào rất lớn trong hoạt động kinh doanh của các NHTM. Đây là nguồn vốn có tính cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng. Vốn huy động, chỉ được sử dụng trong các hoạt động tín dụng và bảo lãnh, các NHTM không được sử dụng vốn này để đầu tư.2 Các hình thức huy động 2.1 Huy động vốn ua tài khoản tiền gửi Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi là hình thức huy động vốn cổ điển và mang tính đặc thù riêng có của NHTM.
Do vậy, đây cũng là khác biệt giữa ngân hàng với các tổ chức tín dụng phi ngân hàng. Để thu hút khách hàng, 6 buộc các ngân hàng phải triển khai và phát triển nhiều hình thức khác nhau, ngày càng đa dạng và phong phú. Tiền gửi thanh toán Tiền gửi thanh toán là hình thức huy động vốn của NHTM bằng cách mở cho khách hàng tài khoản gọi là tài khoản tiền gửi thanh toán. Tài khoản này mở cho các đối tượng khách hàng cá nhân, tổ chức có nhu cầu thanh toán qua ngân hàng.
Tiền gửi không kỳ hạn còn gọi là tiền gửi thanh toán, là loại tiền gửi mà người sở hữu nó có thể rút ra sử dụng bất kỳ lúc nào mà không cần phải báo trước về thời hạn và khối lượng tiền cần rút. Làm cho ngân hàng bị động sử dụng vốn kinh doanh, chính vì vậy, tiền gửi thanh toán có lãi suất thấp cho khách hàng. Do không được hưởng lãi cao nên thường khách hàng thường duy trì số dư tài khoản tiền gửi thanh toán không nhiều, chỉ vừa đáp ứng nhu cầu chi trả hàng ngày của họ. Do tính chất linh hoạt của tiền gửi thanh toán được sử dụng cho vay ngắn hạn.
Tiền gửi tiết kiệm - Tiết kiệm không kỳ hạn Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn được thiết kế dành cho đối tượng khách hàng cá nhân hoặc tổ chức, có tiền tạm thời nhàn rỗi muốn gửi ngân hàng vì mục tiêu an toàn và sinh lợi. Với sổ tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, khách hàng có thể gửi tiền và rút tiền bất cứ lúc nào trong giờ giao dịch. Khách hàng khi chọn lựa hình thức tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn thì mục tiêu an toàn và tiện lợi quan trọng hơn là mục tiêu sinh lời. Đối với ngân hàng, tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn khách hàng muốn rút bất cứ lúc nào cũng được nên ngân hàng phải đảm bảo tồn quỹ để chi trả và khó lên kế hoạch sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng.
Do vậy, ngân hàng thường trả lãi rất thấp cho loại tiền gửi này. - Tiết kiệm có kỳ hạn 7 Khác với tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn được thiết kế dành cho khách hàng cá nhân và tổ chức có nhu cầu gửi tiền vì mục tiêu an toàn và sinh lời. Huy động vốn với hình thức này, các NHTM có nguồn vốn tương đối ổn định, xác định kỳ hạn cụ thể nên NTHM có thể sử dụng để cấp tín dụng ngắn, trung và dài hạn. Động cơ của người gửi là hưởng lãi nên khách hàng có xu hướng chọn những ngân hàng có lãi suất cao.
Lãi suất đóng vai trò quan trọng đối với đối tượng khách hàng này. Lãi suất tiền gửi có kỳ hạn thường cao hơn lãi suất trả cho tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn. Mức lãi suất thay đổi theo kỳ hạn gửi (3, 6, 9 hay 12 tháng…) tùy theo loại đồng tiền gửi tiết kiệm (VND, USD, EUR,.) và tùy theo uy tín và rủi ro của ngân hàng nhận tiền gửi. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn vừa phong phú về kỳ hạn (3 tháng, 6, 9, 12, 13, 15, 24 tháng…).
Căn cứ vào phương thức trả lãi có thể chia thành: + Tiền gửi kỳ hạn lĩnh lãi đầu kỳ. + Tiền gửi kỳ hạn lĩnh lãi cuối kỳ. + Tiền gửi kỳ hạn lĩnh lãi định kỳ (tháng hoặc quý). Các loại tiết kiệm khác Ngoài hai loại tiết kiệm chính là tiết kiệm không kỳ hạn và tiết kiệm định kỳ hầu hết các NHTM đều có thiết kế những loại tiền gửi tiết kiệm khác như tiết kiệm tiện ích, tiết kiệm có thưởng, tiết kiệm an khang với nét đặc trưng riêng nhằm làm cho sản phẩm của mình luôn được đổi mới theo nhu cầu khách hàng.2 Huy động vốn ua phát hành giấy tờ có giá Giấy tờ có giá là chứng nhận của tổ chức tín dụng phát hành để huy động vốn, trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa tổ chức tín dụng và người mua.
8 Giấy tờ có giá có thể phân thành nhiều loại khác nhau: Căn cứ vào quyền sở hữu có thể chia giấy tờ có giá thành giấy tờ có giá ghi danh và giấy tờ có giá vô danh. Căn cứ vào thời hạn, giấy tờ có giá có thể chia thành hai loại, tương ứng với thời hạn huy động vốn: giấy tờ có giá ngắn hạn và giấy tờ có giá dài hạn. Huy động vốn ngắn hạn Để huy động vốn ngắn hạn, các tổ chức tín dụng phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn (dưới 12 tháng) như: kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, tín phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác. Huy động vốn trung và dài hạn Huy động vốn trung và dài hạn (3 năm, 5 năm hay 10 năm) các NHTM có thể phát hành kỳ phiếu, trái phiếu và cổ phiếu.
Huy động vốn từ các tổ chức tín dụng khác và từ NHNN. Các hình thức phát hành chứng từ có giá bao gồm: Phát hành các chứng chỉ tiền gửi: Đây là loại giấy tờ chứng nhận đã gửi tiền vào ngân hàng, có thể chuyển nhượng được, có hưởng lãi suất và lãi suất tùy theo thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng. Phát hành kỳ phiếu ngân hàng: Là giấy nhận nợ có kỳ hạn do ngân hàng phát hành với cam kết trả vốn và lãi cho người mua khi đến hạn. Trái phiếu ngân hàng: Trong trường hợp cần huy động một khối lượng vốn lớn, thời hạn dài để đáp ứng nhu cầu đầu tư, các ngân hàng có thể xin phép phát hành trái phiếu.3 Tầm uan trọng của hoạt động huy động vốn Hoạt động huy động vốn tuy không mang lại lợi nhuận trực tiếp cho ngân hàng nhưng là hoạt động rất quan trọng.
Không có hoạt động này xem như không có hoạt động của ngân hàng thương mại. Vì một ngân hàng thương mại khi được cấp phép thành lập phải có vốn điều lệ theo quy định. Tuy nhiên, vốn điều lệ chỉ đủ tài trợ cho tài sản cố định như trụ sở, văn phòng, máy móc thiết bị cần thiết cho hoạt động chứ chưa đủ vốn để ngân hàng có thể thực hiện các hoạt động kinh doanh như cấp tín dụng và các dịch vụ ngân 9 hàng khác. Để có vốn phục vụ cho các hoạt động này ngân hàng phải HĐVTG đối với KHCN.
Do vậy, hoạt động HĐVTG rất quan trọng đối với ngân hàng cũng như đối với khách hàng và nền kinh tế. Đối với xã hội Ngân hàng nhà nước đưa ra thị trường một lượng tiền nhất định đủ để phục vụ nhu cầu xã hội. Nếu lượng tiền này quá nhiều sẽ dẫn tới lạm phát. NHTM sẽ là trung gian để quản lý lượng tiền lưu thông trong xã hội, định hướng đầu tư cho các ngành kinh tế, từng vùng kinh tế, điều hòa vốn giữa những khách hàng có vốn và khách hàng đang thiếu vốn, góp phần kiềm chế lạm phát, tạo nền tảng cho xã hội phát triển ngày một mạnh mẽ hơn.
Đối với NHTM Huy động vốn là một nghiệp vụ quan trọng, góp phần mang lại nguồn vốn cho ngân hàng để ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh. Không có nghiệp vụ huy động vốn xem như không có hoạt động của NHTM, NHTM sẽ không có đủ nguồn vốn tài trợ cho các hoạt động của mình. Hay nói cách khác, thông qua huy động vốn, NHTM có thể đo lường được sự tín nhiệm của khách khách hàng đối với ngân hàng. Để từ đó, ngân hàng có những biện pháp không ngừng hoàn thiện các hoạt động nhằm giữ vững và mở rộng quan hệ với khách hàng của mình.
Có thể nói rằng, huy động vốn góp phần giải quyết “đầu vào” cho ngân hàng. Đối với khách hàng Nghiệp vụ huy động vốn tạo cho khách hàng một kênh tiết kiệm và đầu tư nhằm làm cho tiền của khách hàng sinh lời, tạo cơ hội cho khách hàng có thể gia tăng tiêu dùng trong tương lai. Không những vậy, nghiệp vụ huy động vốn còn cung cấp cho khách hàng một nơi an toàn để cất trữ và tích lũy nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi. Mặt khác, nghiệp vụ huy động vốn cũng giúp cho khách hàng tiếp cận với các dịch vụ khác của ngân hàng như dịch vụ thanh toán qua ngân hàng, dịch vụ tín dụng.
Chính vì vậy, nghiệp vụ huy động vốn có ý nghĩa rất lớn không chỉ đối với ngân hàng mà còn rất quan trọng với khách hàng.4 Các chỉ tiêu đánh giá tình hình huy động vốn tại ngân hàng thương mại 2.