Mở đầu của chương này, tác giả sẽ trình bày tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, nêu ra lý do tại sao lại chọn lựa đề tài nghiên cứu này. Phần tiếp theo là xác định các mục tiêu của đề tài nghiên cứu, xác định câu hỏi nghiên cứu liên quan, phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài. Bên cạnh đó, trong chương này cũng trình bày các phương pháp nghiên cứu, các đóng góp của đề tài và cuối cùng là trình bày kết cấu tổng thể của đề tài.” Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước có liên quan Chương này tác giả sẽ trình bày nội dung cơ sở lý thuyết về tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng, lý luận chung về các yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn và sơ lược các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài các yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng thương mại làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình. Chương 3: Mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Tác giả thực hiện xây dựng mô hình nghiên cứu, thực hiện đề xuất các giả thuyết và chiều tác động kỳ vọng của các biến trong mô hình.
Ngoài ra trong chương này tác giả cũng thực hiện các phương pháp nghiên cứu nhằm xác định mức độ động của các biến đó. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận “Trong chương này sẽ đề cập đến thực trạng về tỷ lệ an toàn vốn tại các ngân hàng TMCP Việt Nam. Trình bày các kết quả phân tích thống kê mô tả các biến trong mô hình, phân tích tương quan mô hình nghiên cứu, thực hiện các kiểm định để lựa chọn ra mô hình phù hợp. Cuối chương sẽ tiến hành thảo luận kết quả nghiên cứu và từ kết quả của mô hình sẽ xác định các yếu tố nào tác động đến tỷ lệ an toàn vốn cũng như mức độ tác động của từng yếu tố.” Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị Trong chương này sẽ nêu ra các kết luận chính đồng thời đưa ra các gợi ý, khuyến nghị nhằm xác định tỷ lệ an toàn vốn tại các ngân hàng TMCP Việt Nam dựa vào kết quả nghiên cứu có được ở chương 4.
Ngoài ra tác giả cũng trình bày những điểm còn hạn chế của bài nghiên cứu và đề xuất một số hướng nghiên cứu tiếp theo. 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC LIÊN QUAN Nội dung đầu tiên trong chương này là tác giả sẽ trình bày các cơ sở lý thuyết về tỷ lệ an toàn vốn và các lý luận chung về các yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng. Sau đó tác giả cũng lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài từ đó đưa ra cơ sở cho việc xây dựng mô hình và kiểm định các biến trong mô hình. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TỶ LỆ AN TOÀN VỐN 2.
Khái niệm tỷ lệ an toàn vốn Tỷ lệ an toàn vốn (CAR) là tỷ lệ vốn của ngân hàng liên quan đến tài sản có tỷ trọng rủi ro và nợ phải trả hiện tại. CAR được quyết định bởi NHTW và các nhà quản trị ngân hàng để ngăn chặn các NHTM lấy đòn bẩy dư thừa và trở nên mất khả năng thanh toán trong quá trình này. An toàn vốn là mức vốn tối thiểu mà các ngân hàng phải duy trì theo yêu cầu của cơ quan quản lý, nó xuất phát từ mục đích tối đa hóa một hàm phúc lợi xã hội có tính tới chi phí (sự gia tăng chi phí tín dụng) và lợi ích của vốn (giảm xác suất thất bại của ngân hàng) (Elizalde & Repullo, 2007) Tỷ lệ an toàn vốn được định nghĩa là tỷ lệ phần trăm tỷ lệ vốn chính của một tổ chức tài chính so với tài sản của nó và được sử dụng như một thước đo sức mạnh tài chính và sự ổn định của nó (Taherinia & Baqeri, 2018) “Tỷ lệ an toàn vốn là cơ sở đo lường mức độ an toàn của vốn và được coi là một trong những chỉ tiêu tài chính dùng để đo về tình trạng sức khoẻ của các ngân hàng và nó cũng giúp cho ngân hàng ngăn chặn và đảm bảo các ngân hàng có thể chịu đựng các tổn thất dẫn đến bị phá sản (Aspal & Nazneen, n.) “Tỷ lệ an toàn vốn là thước đo dung để đo lượng vốn của một ngân hàng được biểu thị bằng tỷ lệ phần trăm của rủi ro tín dụng có trọng số rủi ro (Mekonnen, 2015)” 7 Tỷ lệ an toàn vốn là tỷ lệ sở hữu trong ngân hàng quyết định cấu trúc tài chính của nó và tỷ lệ này là phần bổ sung của tỷ lệ nợ (Taherinia & Baqeri, 2018) “Khi nhắc đến tỷ lệ số an toàn vốn thì không thể không nhắc tới Uỷ ban Basel về giám sát Ngân hàng (The Basel Committee - Overview, 2011), vì đây là tổ chức tiên phong trong việc tiêu chuẩn hoá cách đo lường chỉ số an toàn vốn này. Theo đó, hệ số an toàn vốn được định nghĩa là một chỉ tiêu kinh tế phản ánh mối quan hệ về vốn của ngân hàng đối với tổng tài sản có điều chỉnh rủi ro.
Chỉ số này biểu thị sức mạnh tài chính và mức độ an toàn trong hoạt động của ngân hàng. “Tại Việt Nam, tỷ lệ an toàn vốn thường được nhắc đến trong các BCTC và BCTN của các ngân hàng TMCP. Theo đó, chỉ tiêu này của các ngân hàng đảm bảo theo quy định của NHNN thể hiện sự ổn định và phát triển bền vững song song với việc tăng trưởng tín dụng an toàn và kiểm soát chất lượng tín dụng chặt chẽ. Tỷ lệ này tại Việt Nam được NHNN quy định có mức tối thiểu là 9% nếu các ngân hàng tính tỷ lệ theo Thông tư số 22/2019/TT- NHNN và có mức tối thiểu là 8% nếu các ngân hàng tính toán tỷ lệ an toàn vốn theo Thông tư số 41/2016/TT-NHNN.
Vì vậy kết luận rằng tỷ lệ an toàn vốn là một thước đo về độ an toàn vốn của các ngân hàng dựa trên tỷ lệ giữa vốn tự có và tổng tài sản có điều chỉnh rủi ro của ngân hàng. Tỷ lệ này được các nhà quản trị ngân hàng dùng để đánh giá khả năng thanh toán và mức độ rủi ro của ngân hàng trong việc thanh toán các khoản nợ đến hạn. Việc các ngân hàng tuân thủ quy định về tỷ lệ an toàn vốn giúp cơ quan quản lý hệ thống tài chính ngân hàng cụ thể ở đây là các NHTW có thể quản lý được sự ổn định của hệ thống ngân hàng nói riêng và hệ thống tài chính nói chung. Ngoài ra việc đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu cũng giúp nhà quản trị ngân hàng có những chính sách phát triển bền vững và đảm bảo hoạt động hiệu quả ngân hàng đồng thời giúp nhà đầu tư và người gửi tiền cũng cảm thấy an tâm đối với các khoản tiền của mình khi gửi tại ngân hàng.
Đúng với vai trò của mình, ngân hàng là trung gian tài chính của nền kinh tế vì sự ổn định, an toàn và hiệu quả. Ý nghĩa tỷ lệ an toàn vốn Tỷ lệ an toàn vốn được xem như là thước đo cơ bản để NHTW có thể đánh giá sự lành mạnh, sự an toàn và chuẩn mực về tài chính của ngân hàng. Nếu một ngân hàng không 8 đảm bảo được nguồn vốn chủ sở hữu, tính thanh khoản không được đảm bảo thì ngân hàng này được xem như không có khả năng hoạt động bình thường phải chịu sự kiểm soát đặc biệt của NHNN hoặc thậm chí buộc phải sáp nhập với các ngân hàng khác để đảm bảo cho hệ thống ngân hàng được hoạt động nhịp nhàng và hiệu quả cũng như mang lại sự yên tâm cho người gửi tiền. Căn cứ vào tỷ lệ an toàn vốn các ngân hàng cũng sẽ được đánh giá là có khả năng thanh toán các khoản nợ có thời hạn, đảm bảo kiểm soát rủi ro hoạt động thường ngày và lường trước các rủi ro trong tương lai có thể xảy ra cho ngân hàng.
Vì vậy NHTW ở các nước luôn xác định một tỷ lệ an toàn vốn được đảm bảo ở mức tối thiểu đồng thời luôn giám sát hoạt động này một cách chặt chẽ để đảm bảo các ngân hàng luôn duy trì được tỷ lệ này. Có được một tỷ lệ an toàn vốn được đảm bảo không những giúp ngân hàng đảm bảo được hiệu quả kinh doanh mà còn giúp cho ngân hàng đó tăng khả năng cạnh tranh với các ngân hàng khác, nâng cao mức xếp hạng tín nhiệm nhằm thu hút các nhà đầu tư và người gửi tiền. Việc từng ngân hàng duy trì được mức tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu không những đảm bảo cho ngân hàng mình hoạt động một cách an toàn, hiệu quả mà còn giúp cho cả hệ thống ngân hàng duy trì và phát triển một cách bền vững. Nếu một ngân hàng không duy trì được mức an toàn vốn tối thiểu, luôn trong tình trạng vốn bị thiếu hụt, thanh khoản không đảm bảo và hoạt động không hiệu quả thì sẽ kéo theo cả hệ thống ngân hàng và kinh tế tài chính rơi vào tình trạng khủng hoảng.
Khái niệm về lý thuyết bất cân xứng thông tin Cleary (1999) cho rằng, sở dĩ thông tin bất cân xứng trên thị trường là do các nhà tài trợ vốn bên ngoài đánh giá dự án đầu tư dựa trên chất lượng và rủi ro của dự án. Điều này khiến chi phí nguồn vốn bên ngoài trở nên cao hơn chi phí nguồn vốn nội bộ, như là một khoản phí bảo hiểm bù đắp rủi ro. Khái niệm thông tin bất cân xứng lần đầu tiên được giới thiệu bởi Akerlof George A. Akerlof (1970) tranh cãi rằng, người bán với nhiều thông tin bên trong về tài sản của mình, nên không sẵn lòng bán sản phẩm cho người mua thiếu thông tin về tài sản đó.
Còn người mua nghĩ rằng, nếu người bán sẵn lòng bán 9 ngay tài sản của họ với giá mà người mua đưa ra, điều đó nghĩa là giá mua đã đưa ra cao hơn giá trị của tài sản. Và như vậy, tài sản được mua bán khi đó là tài sản có chất lượng xấu (lemon). Vấn đề bất cân xứng thông tin đã dẫn đến giá cả của tài sản trên thị trường bị đánh giá thấp khi người mua và người bán không có cùng mức độ thông tin và sự khác nhau này thể hiện ở một khoản phí bảo hiểm bù đắp cho rủi ro tài sản “lemon”.