Chương 1 tác giả đã trình bày sự cần thiết để nghiên cứu ảnh hưởng của quản trị VLĐ lên KNSL của các doanh nghiệp SXHGD. Nội dung chương này cũng xác định được 3 mục tiêu cụ thể của vấn đề nghiên cứu và 3 câu hỏi nghiên cứu tương ứng, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu. Trong đó cụ thể phạm vi cả về không gian và thời gian và các phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu. Sau khi nêu lên các đóng góp về mặt học thuật và mặt thực tiễn của đề tài, tác giả cung cấp thông tin khái quát cấu trúc đề tài bao gồm 5 chương nội dung chính.
7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ LƯỢC KHẢO CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 2.1 Khả năng sinh lời và cách thức đo lường Một doanh nghiệp có thành công hay không sẽ được kiểm tra bằng cách đo lường KNSL của nó (Deeposhree 2013). Theo Hermanson và Edward (2005) khả năng sinh lời là khả năng tạo ra thu nhập của một tổ chức kinh doanh. Đồng quan điểm đó, Warrad và Al Omari (2015) nhận định rằng KNSL là một bức tranh tổng quan về hiệu quả kinh doanh của một doanh nghiệp và được sử dụng như một thước đo sức khỏe tài chính của một doanh nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định (Margaretha và Supartika, 2016). KNSL là một chỉ số quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động và sức khỏe tài chính của doanh nghiệp, tuy nhiên cần được xem xét cùng với các chỉ số khác và các yếu tố bên ngoài để có cái nhìn toàn diện và chính xác nhất.
KNSL là nhân tố quyết định đến thành công của doanh nghiệp, quyết định doanh nghiệp có tồn tại được không (Yazdanfar, 2013). Bởi khả năng sinh lời sẽ tác động trực tiếp đến các chỉ số và mục tiêu tài chính khác của doanh nghiệp. Các chỉ số này lại đóng vai trò vô cùng quan trọng, chúng sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến các yếu tố như: tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp, sự đổi mới và thay đổi công nghệ… Theo Malik (2011): “Khả năng sinh lời là một trong những thước đo, mục tiêu quan trọng nhất của quản lý tài chính. Khả năng sinh lời liên quan chặt chẽ đến lợi nhuận nhưng có điểm khác biệt chính.
Trong khi lợi nhuận là một số tiền tuyệt đối, khả năng sinh lời là tương đối. Khả năng sinh lời là thước đo hiệu quả về sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp”. Trong Từ điển kinh tế học của Nguyễn Văn Ngọc (2012), tác giả đã lý giải khả năng sinh lợi rằng: “Khả năng sinh lời là một con số đánh giá khả năng tạo ra lợi nhuận của một doanh nghiệp trong thời gian dài, giả sử tất cả các điều kiện hoạt động hiện tại nói chung là không đổi. Khả năng sinh lời là khả năng một doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực của mình để tạo ra doanh thu vượt quá chi phí của mình”.
8 Murphy and Hill (1996) đã sử dụng giá trị thị trường (các hệ số về tăng trưởng tài sản) và giá trị kế toán (các hệ số về lợi nhuận) nhằm đánh giá toàn diện khả năng sinh lời của DN. Dù sử dụng chỉ tiêu nào để đánh giá thì DN phải chú tâm vào các chỉ tiêu cơ bản là lợi nhuận trên tài sản (ROA) và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE). Ngoài ra, còn có các tiêu chí đo lường bổ sung khác như tỷ suất cổ tức, tỷ số giá thị trường trên giá trị sổ sách, giá trị vốn hóa thị trường và tỷ số giá thị trường trên giá trị sổ sách… Đề tài khoá luận chỉ chọn ROA để đánh giá KNSL của các công ty mẫu thu thập được. Vốn lưu động và các thành phần của vốn lưu động 2.
Vốn lưu động Trong Giáo trình Tài chính doanh nghiệp (Bùi Văn Vần và Vũ Văn Ninh, 2014), vốn lưu động được tác giả định nghĩa rằng: “Vốn lưu động của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư hình thành nên các tài sản lưu động thường xuyên cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nói cách khác, vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của các tài sản lưu động trong doanh nghiệp”. Một định nghĩa khác khi nói về vốn lưu động của Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên (2014), được dựa trên quá trình cấu thành vốn lưu động: “Vốn luân chuyển (Working Capital) được định nghĩa là chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn phải trả. Theo nghĩa rộng, vốn luân chuyển là giá trị của toàn bộ tài sản ngắn hạn, những tài sản gắn liền với chu kỳ kinh doanh của công ty.
Trong mỗi chu kỳ kinh doanh, chúng chuyển hoá qua tất cả các dạng tồn tại từ tiền mặt đến hàng tồn kho, khoản phải thu và trở về hình thái cơ bản ban đầu là tiền mặt”. Thuật ngữ vốn lưu động bắt nguồn từ một người bán rong ở Yankee chất hàng hóa lên xe ngựa của mình và đem đi bán ở Yankee. Anh ta đã gọi hàng hóa là VLĐ bởi bởi vì đó là thứ anh ta bán và chuyển giao thành lợi nhuận của anh ta. Người bán rong ấy sở hữu ngựa và xe ngựa, chúng được tài trợ bởi vốn chủ sở hữu.
Vậy nên, xe ngựa và ngựa là tài sản cố định của người này. Tuy nhiên, anh ta đã vay tiền để mua hàng hóa thì những khoản vay này là khoản vay VLĐ và chúng phải được hoàn trả sau mỗi chuyến 9 đi để chứng minh với ngân hàng rằng khoản tín dụng đó là hợp lý. Nếu người bán hàng rong có thể hoàn trả khoản vay thì ngân hàng sẽ thực hiện một khoản vay khác và các ngân hàng tuân theo thủ tục này được cho là đang áp dụng “sound banking practices” (Mulualem, 2011). Theo Calmguy Chaitu (2013), "để duy trì dòng doanh thu từ hoạt động, mỗi doanh nghiệp cần một lượng tài sản ngắn hạn nhất định.
Ví dụ, tiền mặt để thanh toán chi phí hoặc đáp ứng các nghĩa vụ đối với dịch vụ nhận được hoặc hàng hóa được mua. Với lý do tương tự, hàng tồn kho được yêu cầu phải cung cấp sự liên kết giữa sản xuất và bán hàng. Tương tự, các khoản phải thu được tạo ra từ việc bán chịu hàng hóa. Toàn bộ tài sản lưu động này tạo thành VLĐ của doanh nghiệp".
VLĐ được xác định là chênh lệch giữa tài sản hiện tại và nợ ngắn hạn. Việc thâm hụt VLĐ sẽ xảy ra nếu doanh nghiệp có ít tài sản hiện tại hơn nợ ngắn hạn. Các thành phần của vốn lưu động Tiền (tiền và các khoản tương tiền) Tiền mặt được sử dụng để mua bán hàng hóa và dịch vụ, thanh toán hóa đơn và thực hiện các giao dịch khác. Việc nắm giữ nhiều tiền mặt có thể mang lại một số lợi ích cho doanh nghiệp, nhưng cũng tiềm ẩn những rủi ro nhất định.
DN cần cân nhắc kỹ lưỡng yếu tố này để đưa ra phán đoán phù hợp về mức độ tiền mặt cần nắm giữ. Tiền mặt là phương tiện thanh toán trực tiếp, giúp doanh nghiệp thanh toán các khoản chi phí, nghĩa vụ một cách nhanh chóng và thuận tiện, đặc biệt trong trường hợp khẩn cấp. Việc nắm giữ nhiều tiền mặt giúp doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro thiếu hụt tiền mặt để thanh toán các khoản chi phí, nghĩa vụ, đặc biệt trong điều kiện kinh tế thị trường tài chính dao động liên tục như hiện nay. DN sẽ có thể có vị thế đàm phán tốt hơn khi thanh toán bằng tiền mặt, ví dụ như được chiết khấu khi mua hàng hóa hay dịch vụ.
Nắm giữ nhiều tiền mặt đồng nghĩa với việc DN sẽ bỏ lỡ cơ hội đầu tư vào các kênh sinh lời khác như chứng khoán, trái phiếu, bất động sản… Việc lưu trữ và bảo quản lượng tiền mặt lớn có thể dẫn đến chi phí như chi phí bảo mật, bảo hiểm… tăng lên. 10 Theo Keynes (1936), tính thanh khoản là một chức năng đặc biệt của tiền. Tính thanh khoản của doanh nghiệp được thể hiện thông qua khả năng thanh toán của nhiều loại tài sản trong doanh nghiệp và tiền là tài sản có tính thanh khoản cao nhất. Nhờ vào tính thanh khoản, doanh nghiệp có thể hạn chế những tác động tiêu cực về dòng tiền như áp lực trả nợ, áp lực vốn… Hàng tồn kho Theo Firth (1976), hàng hóa hoặc nguyên vật liệu chờ bán và sẽ được chuyển đổi sang tiền mặt trong thời gian ngắn được gọi là HTK.
HTK chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của công ty nên việc phải giảm tối thiểu chi phí lưu trữ, quản lý HTK là thực sự cần thiết thông qua các chính sách quản trị hiệu quả nhằm tăng KNSL cho doanh nghiệp. Hampton & Wagner (1989) nói rằng “mục tiêu của quản trị hàng tồn kho là tối thiểu hóa chi phí lưu trữ và chi phí tài chính trong khi duy trì một mức hàng tồn kho đáp ứng nhu cầu bán hàng”. Quản trị HTK hiệu quả đóng vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa nguồn vốn, giảm chi phí, tăng KNSL và duy trì khả năng thanh toán cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần cân bằng giữa việc giảm thiểu tiền mặt bị trói buộc và đáp ứng nhu cầu khách hàng để đạt được hiệu quả quản trị HTK tối ưu.
Tài sản lưu động khác Tài sản lưu động khác là một phần trong báo cáo tài chính của DN, cho thấy giá trị của các tài khoản khác không được hiển thị trong báo cáo tài chính chính thức, chẳng hạn như chi phí trả trước ngắn hạn, các khoản thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, tạm ứng, ký quỹ và các khoản cầm cố. Chi phí trả trước ngắn hạn phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nhiều kỳ hạch toán, chẳng hạn như các khoản tiền đã được thanh toán trước cho nhà cung cấp để đặt hàng hoặc ký hợp đồng dịch vụ trong tương lai. Khoản tiền hoặc vật tư được ứng trước cho người lao động để thực hiện các hoạt động kinh doanh, sản xuất hoặc giải quyết các vấn đề được lãnh đạo phê duyệt được gọi là tạm ứng. Quản trị vốn lưu động Quản trị VLĐ được định nghĩa là liên quan đến các vấn đề nảy sinh trong nỗ lực quản lý tài sản lưu động, nợ ngắn hạn và mối quan hệ qua lại giữa chúng Brigham (1977).
Quản trị vốn lưu động hiệu quả là một quá trình liên tục, đòi hỏi sự nỗ lực và theo dõi chặt chẽ của ban lãnh đạo doanh nghiệp. Bằng cách áp dụng các chiến lược phù hợp, doanh nghiệp có thể tối ưu hóa nguồn vốn, đảm bảo thanh khoản, gia tăng lợi nhuận và nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường.