CHƯƠNG 1: TONG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tổng quan nghiên cứu 1. Các nghiên cứu trước Các nghiên cứu cho thấy mối quan hệ cùng chiều giữa quản trị vốn lưu động và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã nghiên cứu tác động của quản lý vốn lưu động đến hiệu quả hoạt động và đưa ra các kết luận khác nhau về mức độ tác động cũng như chiều hướng tác động của chúng. Dưới đây tác giả đã trình bày các nghiên cứu chỉ ra tồn tại mối quan hệ tích cực hay cùng chiều của quản trị VLĐ; các nhân tố đo lường hiệu qua quản tri VLD và HQHD được đề cập đến trong khóa luận: Vốn lưu động là một cau phan quan trọng của quản lý tài chính, Aisha Sana (2005) đã điều tra mối quan hệ giữa VLĐ và khả năng sinh lời của các DN niêm yết ngành Dầu khí tại Pakistan giai đoạn 2001-2005. Nghiên cứu chỉ ra mẫu nghiên cứu tồn tại mối quan hệ tích cực giữa tỷ suất lợi nhuận gộp - tỷ số đo lường khả năng sinh lời và nhân tố đo lường hiệu qua quản trị VLD - đại diện hiệu quả quản trị VLD.
Phân tích cũng cho thấy rằng ban quản trị có thê tạo ra lợi nhuận tích cực cho các cô đông bằng cách quản trị vốn lưu động. Điều này chứng minh rõ ràng cho nhận định về việc các hoạt động quản trị vốn lưu động giải thích những thay đổi về lợi nhuận của công ty. Sharma and Satish Kumar (2010) đã thực hiện nghiên cứu bé sung cho kết luận trong nghiên cứu của Aisha Sana (2005), nghiên cứu cho thấy số ngày các khoản phải thu và thời gian chuyên đổi tiền mặt thé hiện mối quan hệ tích cực với khả năng sinh lời của công ty. Abdul Raheman (2010) khăng định quản trị vốn lưu động đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động va làm thúc đây HQHD của các DN ngành sản xuất.
Tác giả cho rằng chu kỳ chuyền đổi tiền mặt, chu kỳ thương mại ròng và vòng quay hàng tồn kho trong ngày có ảnh hưởng đáng kế đến HQHD của các công ty. Cũng nghiên cứu tại Pakistan nhưng với hướng nghiên cứu được thực hiện dựa trên dữ liệu tài chính của các DN siêu nhỏ, tác giả Mustafa Afeef (2011) cho răng việc quản lý hiệu quả VLĐ có thể có tác động sâu sắc hơn đến HQHĐ của các doanh nghiệp nhỏ so với HQHĐ của các DN lớn hơn vì một tỷ lệ đáng kể trong tổng tai sản của các DN vừa và nhỏ được cau thành từ tài sản lưu động va một phan đáng ké trong tổng số nợ phải trả của họ bao gồm nợ ngắn hạn. Do đó, tác giả xác định tác động tiềm tàng của việc quản lý VLĐ đối với hiệu suất HQHD của các DN vừa và nhỏ ở Pakistan. Kết quả từ các phân tích cho thay rằng các chỉ số về quản lý vốn lưu động có tác động rõ rệt đến khả năng sinh lời của các công ty được nghiên cứu.
Sau đó hai năm, cũng với mẫu nghiên cứu là các DN vừa và nhỏ tại Pakistan, Sector Sajid Gul và cộng sự (2013) thực hiện đề tài nghiên cứu: “Working Capital Management and Performance of SME”. Nghiên cứu điều tra ảnh hưởng của quản lý vốn lưu động đến hiệu quả hoạt động với biến phụ thuộc của nghiên cứu là tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA) được sử dụng làm đại diện cho khả năng sinh lời. Nghiên cứu lựa chọn các biến sau dé đo lường mối quan hệ tác động của quản trị VLD và HQHĐ: số ngày khoản phải thu, số ngày hàng tồn kho, chu kỳ chuyên đổi tiền mặt và số ngày khoản phải trả. Ngoài các biến này, một số biến khác đã được sử dụng bao gồm quy mô công ty, đòn bay và tăng trưởng.
Kết quả chỉ ra rằng giữa số ngày phải trả và khả năng sinh lời tồn tại mối quan hệ cùng chiều với nhau. Ching, Hong Yuh, Ayrton Novazzi, và Fabio Gerab. "Relationship between working capital management and profitability in Brazilian listed companies." dang trén tạp chí Kinh tế (2011), nhóm tác giả thực hiện nghiên cứu trên với hai mục tiêu: điều tra xem liệu có bất kỳ sự khác biệt nào giữa khả năng sinh lời của công ty và quản lý vốn lưu động trong hai nhóm công ty riêng biệt. Trong nghiên cứu, nhóm tác giả đã dựa vào ba chỉ số dé đo lường khả năng sinh lời như sau: lợi nhuận trên doanh thu, trên tài sản và trên vốn chủ sở hữu.
Các biến độc lập được sử dụng là hiệu quả chuyển đôi tiền mặt, tỷ lệ nợ, số ngày sử dụng vốn lưu động, số ngày phải thu và số ngày tồn kho. Hồi quy tuyến tính bội đã xác định rằng, đối với ROS và ROA, việc quản lý vốn lưu động đúng cách có liên quan như nhau đối với hai nhóm công ty. Nghiên cứu đã xác định số ngày vốn lưu động là biến có ảnh hưởng tích cực đến ROS ở nhóm thứ hai. Quản trị vốn lưu động và HQHD được khang định có mối tương quan tích cực với nhau (Dr.
Kaddumi va Dr. Tại Việt Nam, quản tri vốn lưu động đóng vai trò rất lớn, nó góp phan quan trọng trong sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp (Võ Xuân Vinh, 2013). Nghiên cứu của tác giả Võ Xuân Hinh (2013) đã đánh giá ảnh hưởng quản trị vốn lưu động đến khả năng sinh lợi doanh nghiệp, cụ thé là các doanh nghiệp ngành công nghiệp. Dữ liệu tài chính thu thập được của 80 doanh nghiệp ngành công nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Hồ Chi Minh trong giai đoạn 2007— 2011 đã được đưa vào nghiên cứu và cho ra kết quả khang định tồn tại mối quan hệ tác động có ý nghĩa của thời gian thu tiền, thời gian tồn kho, chu kỳ luân chuyền tiền đến khả năng sinh lợi doanh nghiệp ngành công nghiệp.
Do đó, dé thực hiện mong muốn gia tang lợi nhuận cho DN ban quản tri có thể cân nhắc đưa ra các chính sách quản trị VLĐ phù hợp. Tô Thị Thanh Trúc và Nguyễn Đình Thiên (2015) với đề tài nghiên cứu được đăng trên tạp chí khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh - Kinh tế và Quan tri kinh doanh đã dựa trên dữ liệu từ bao cáo tài chính của 564 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2006 —2013 dé tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa HQHĐ với chính sách quản lý vốn lưu động của các công ty. Các kết quả hồi quy trong nghiên cứu khăng định tồn tại mối quan hệ giữa các biến độc lập với HQHĐ của công ty cụ thé là vòng quay tài sản ngắn hạn và tỷ lệ tài sản ngăn hạn trong tông tài sản cũng có tác động cùng tích cực đến ROA. Điều này hàm ý rằng các nhà quản lý các công ty được tác giả chon lựa nghiên cứu có thé gia tăng HQHD của công ty thông qua một chính sách vốn lưu động phù hợp với đặc điểm vốn và hoạt động kinh doanh của từng công ty cụ thể.
Murtala Zakari và Sani Saidu (2016) đã nghiên cứu tác động của chu kỳ vốn lưu động tới lợi nhuận dé xác định mối quan hệ tương tác của quản trị VLD và HQHD với dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ các doanh nghiệp ngành truyền thông niêm yết trên San Giao Dịch Chứng Khoán Nigeria trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến năm 2014. Đề đưa ra kết quả nghiên cứu có ý nghĩa phù hợp, nhóm tác giả đã sử dụng đống thời phương pháp thống kê mô tả, phân tích tương quan và phân tích hồi quy tuyến tính trong nghiên cứu của mình. Các biến trong mô hình nghiên cứu này bao gồm: Biến phụ thuộc là khả năng sinh lời, đo lường bởi suất sinh lời trên tài sản; Biến độc lập bao gồm các biến phản ánh thực trạng quản trị VLĐ, đo lường bởi chu kỳ luân chuyền tiền và các thành phần của nó, biến kiểm soát là quy mô doanh nghiệp, đo lường bởi logarit của tông giá trị tài sản. Kết quả hồi quy đã phát hiện mối quan hệ cùng chiều giữa chu kỳ vốn lưu động với lợi nhuận, hay mối quan hệ tích cực của quản trị VLD và HQHD đồng thời đưa ra khuyến nghị về tầm quan trọng của quản trị vốn lưu động trong hoạt động hằng ngày.
Quan tri vốn lưu động là vấn đề rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đối với hoạt động của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp quản trị vốn lưu động hiệu quả sẽ tác động tích cực đến lợi nhuận, hạn chế rủi ro về vấn đề thanh khoản và làm tăng gia tri cua doanh nghiệp (Vương Đức Hoang Quân va Duong Diễm Kiều, 2016). Nghiên cứu đã phân tích và đánh giá mức độ tác động của vốn lưu động đến lợi nhuận của các doanh nghiệp thuộc các ngành kinh tế cụ thể như: ngành dược phẩm, ngành thép, ngành thực phẩm và ngành thủy sản niêm yết trên sàn chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE). Kết quả nghiên cứu thể hiện qua mô hình hồi quy riêng của từng ngành và cho thấy mức độ tác động của vốn lưu động đến lợi nhuận đối với 4 ngành nghiên cứu rất khác nhau.
Nghiên cứu cũng đề cập đến các biện pháp nhằm quản lý hiệu quả vốn lưu động của các doanh nghiệp theo từng nganh. Cũng cho kết quả về mối quan hệ tích cực giữa các nhân tố liên quan đến quan tri công ty và hiệu quả hoạt động, nghiên cứu của Tanveer Bagh và cộng sự (2016) đã đưa ra kết luận rằng HQHĐ của công ty của các công ty được lựa chọn bị ảnh hưởng bởi quản trị VLĐ. Mẫu ngẫu nhiên được chọn lựa bao gồm 50 công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Pakistan trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2014. Quản tri VLD đã được đo lường dựa trên các biến độc lập như vòng quay hàng tồn kho, chu kỳ chuyền đổi tiền mặt, kỳ thu tiền bình quân, kỳ thanh toán bình quân.
HQHD của công ty đã được sử dụng làm biến phụ thuộc và được đại diện bởi các chỉ số: lợi nhuận trên tài sản, lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu và thu nhập trên mỗi cổ phan. Kết quả nghiên cứu được trình bay cụ thé theo từng nhân tố tác động: kỳ thanh toán bình quân có tác động tích cực và đáng kể đến lợi nhuận trên tài sản ROA và kỳ thu tiền bình quân có tác động tích cực và đáng ké về mặt thông kê đối với thu nhập trên mỗi cô phan.