Chương 1 đề tài nêu ra vấn đề và chỉ ra tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, đưa ra cái nhìn khái quát về vấn đề nghiên cứu, sau đó đưa ra mục tiêu nghiên cứu chung và mục tiêu nghiên cứu cụ thể. Tiếp theo, đặt ra các câu hỏi nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu tương ứng, đồng thời mô tả đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Nghiên cứu 112 doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán HOSE đối với 112 công ty phi tài chính trong 13 năm từ năm 2010 đến năm 2022. Cuối cùng, chỉ ra những đóng góp của đề tài và trình bày cấu trúc bố cục của đề tài gồm 5 chương và nội dung chính của từng chương riêng lẻ.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ LƢỢC KHẢO CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC Chương 2 thể hiện các nội dung lý thuyết liên quan mật thiết đến vấn đề nghiên cứu. Đồng thời là lược khảo các nghiên cứu đã công bố khoa học ở nước ngoài và Việt Nam, và tìm ra các khoảng trống ở kết quả công bố trước đây, cũng như xác định một số yếu tố của quản trị tài chính có ảnh hưởng đáng kể đến HQHĐ doanh nghiệp để làm cơ sở hình thành mô hình. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH 2. Khái niệm Theo Lynne Sampson (2023), Quản lý tài chính là kiểm soát dòng tiền vào và ra khỏi tổ chức.
Mọi doanh nghiệp đều cần bán sản phẩm hoặc dịch vụ, thanh toán chi phí, cân đối sổ sách và nộp thuế. Quản lý tài chính bao gồm tất cả những điều này, cùng với các quy trình phức tạp hơn, chẳng hạn nhƣ trả lƣơng cho nhân viên, mua vật tƣ và gửi báo cáo cho các cơ quan chính phủ để chứng minh rằng họ tuân thủ luật pháp và quy định hiện hành. Hành động giám sát tất cả các giao dịch này đối với một doanh nghiệp là điều thiết yếu khi nói về QTTC của một công ty. Nhìn chung, công ty càng lớn thì việc quản lý tài chính càng phức tạp.
Kirti Pandye (2016), quản lý tài chính đề cập đến một phần của hoạt động quản lý, có liên quan đến việc lập kế hoạch và kiểm soát các nguồn tài chính của công ty.K (2016): “Quản lý tài chính là hoạt động điều hành của một doanh nghiệp chịu trách nhiệm đạt đƣợc và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn cần thiết cho hoạt động hiệu quả" Quản lý tài chính là việc áp dụng công tác quản lý chung nguyên tắc trong lĩnh vực ra quyết định tài chính, cụ thể là trong lĩnh vực đầu tƣ vốn, tài trợ cho các hoạt động khác nhau và thanh lý của lợi nhuận. Quản lý tài chính là nghệ thuật lập kế hoạch; tổ chức, chỉ đạo và kiểm soát việc mua sắm và sử dụng vốn và 8 xử lý lợi nhuận một cách an toàn nhằm mục đích cuối cùng là cá nhân, tổ chức và mục tiêu xã hội đƣợc thực hiện. Theo tiếp cận của đề tài, QTTC là hoạt động kiểm soát dòng tiền vào và ra trong doanh nghiệp. QTTC cũng là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm soát các hoạt động tài chính của một doanh nghiệp, bao gồm việc quản lý cơ cấu nợ, quản lý tài sản, lập kế hoạch tài chính với mục tiêu tối ƣu hoá lợi nhuận cũng nhƣ hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản trị tài chính của doanh nghiệp Theo Brigham và Houston (2003), có nhiều chỉ tiêu đƣợc dùng để đánh giá hiệu quả của quản trị tài chính, cụ thể nhƣ: 2. Nhóm chỉ tiêu phản ánh tính thanh khoản Tính thanh khoản bao gồm các chỉ tiêu nhƣ tỷ số thanh toán nhanh và tỷ số thanh toán hiện thời. Chỉ tiêu này có thể đo lƣờng sức mạnh tài chính và khả năng thanh toán của doanh nghiệp. “Tỷ số thanh toán nhanh (Quick ratio) là chỉ số phản ánh khả năng thanh toán cho các khoản nợ ngắn hạn dựa trên những tài sản ngắn hạn (không bao gồm hàng tồn kho) có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền.
2005) Theo Brigham và Houston: “Nếu tỷ số thanh toán nhanh (Quick ratio) < 1: cho thấy khả năng với các tài sản ngắn hạn không tính đến hàng tồn kho, doanh nghiệp không đủ khả năng để thanh toán cho các khoản nợ ngắn hạn”. Vì vậy, doanh nghiệp sẽ 9 cần phải xem xét đến khả năng, có thể sẽ phải bán hàng tồn kho để có dòng tiền để trả cho các khoản nợ đến hạn. Nếu tỷ số này càng gần về bằng 0, cho thấy doanh nghiệp đang cạn kiệt về tài chính trong ngắn hạn, không còn khả năng chi trả, dẫn đến nguy cơ ảnh hƣởng đến tính hoạt động liên tục, có khả năng phải ngừng hoạt động, thậm chí là phá sản. Nếu tỷ số thanh toán nhanh (Quick ratio) > 1: cho thấy khả năng thanh toán của doanh nghiệp tốt, không cần phải lo lắng phải thanh lý hàng tồn kho, để kịp thời thanh toán kịp các khoản nợ đến hạn.
“Tỷ số thanh toán hiện thời (Current ratio) là tỷ số đo lƣờng khả năng trả nợ của công ty trong ngắn hạn. Đây là chỉ tiêu phản ánh công ty có bao nhiêu tài sản có thể chuyển đổi thành tiền mặt để đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. 2005) Tỷ số thanh toán hiện hành cao cho thấy doanh nghiệp luôn có khả năng thanh toán các khoản nợ. Tuy nhiên, nếu tỷ số thanh toán hiện hành quá cao sẽ làm giảm HQHĐ vì công ty đã đầu tƣ quá nhiều vào tài sản ngắn hạn hay nói cách khác việc quản lý tài sản ngắn hạn không hiệu quả.
Nếu tỷ số thanh toán hiện hành < 1 cho thấy tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp đang thấp hơn so với nợ ngắn hạn. Đây là dấu hiệu cho thấy khả năng thanh toán, trả nợ của doanh nghiệp là rất yếu và đang gặp các khó khăn về tài chính, dòng tiền trong việc thanh toán các khoản nợ đến hạn trả. Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng quản lý tài sản Theo Brigham và Houston: “Khả năng quản lý tài sản bao gồm một số chỉ tiêu nhƣ vòng quay hàng tồn kho, vòng quay khoản phải thu, vòng quay khoản phải trả, vòng quay vốn lƣu động. Các chỉ tiêu này dùng để đo lƣờng hiệu quả quản lý tài sản của doanh nghiệp, đánh giá năng lực điều hành, quản lý và khả năng tạo ra lợi nhuận từ việc sử dụng tài sản của doanh nghiệp”.
Theo Nguyễn Văn Thuận: “Vòng quay hàng tồn kho (Inventory turnover) dùng để đo lƣờng hiệu quả quản lý hàng tồn kho của doanh nghiệp. Chỉ số này cho biết số lần hàng tồn kho của doanh nghiệp đƣợc bán hết hoặc tái nhập trong một khoảng thời gian nhất định”. 2010) Vòng quay hàng tồn kho càng cao thì doanh nghiệp càng bán hàng nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều trong doanh nghiệp. Điều này có nghĩa là doanh nghiệp sẽ ít rủi ro hơn nếu nhìn thấy trong BCTC, khoản mục hàng tồn kho có giá trị giảm qua các năm.
Doanh nghiệp cần theo dõi và phân tích chỉ số này thƣờng xuyên để có những biện pháp kịp thời nhằm cải thiện hiệu quả quản lý hàng tồn kho, giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động và giảm chi phí. Theo Nguyễn Văn Thuận: “Vòng quay khoản phải thu (Accounts Receivable Turnover Ratio) là một chỉ số tài chính đo lƣờng hiệu quả của doanh nghiệp trong việc thu hồi các khoản phải thu từ khách hàng. Chỉ số này cho biết số lần các khoản phải thu của một công ty đƣợc chuyển đổi thành tiền mặt trong một khoảng thời gian nhất định. 2010) Vòng quay khoản phải thu có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Chỉ số này cao cho thấy doanh nghiệp thu hồi các khoản phải thu nhanh chóng, từ đó cải thiện dòng tiền và giảm thiểu rủi ro thanh toán chậm trễ của khách hàng. Ngƣợc lại, chỉ số thấp cho thấy doanh nghiệp thu hồi các khoản phải thu chậm, gây ảnh hƣởng đến dòng tiền và tăng nguy cơ phát sinh nợ khó đòi. Vòng quay khoản phải trả (Accounts Payable Turnover Ratio) là một chỉ số tài chính đo lƣờng hiệu quả của doanh nghiệp trong việc thanh toán các khoản phải trả cho nhà cung cấp. Chỉ số này cho biết số lần các khoản phải trả của một công ty đƣợc thanh toán trong một khoảng thời gian nhất định.
𝐺𝑉𝐻𝐵 + 𝐻𝑇𝐾 𝑐𝑢ố𝑖 𝑘ỳ − 𝐻𝑇𝐾 đầ𝑢 𝑘ỳ 𝑉𝑄 𝐾ℎ𝑜ả𝑛 𝑝ℎả𝑖 𝑡𝑟ả = (𝑃ℎả𝑖 𝑡𝑟ả đầ𝑢 𝑘ỳ + 𝑃ℎả𝑖 𝑡𝑟ả 𝑐𝑢ố𝑖 𝑘ỳ)/2 Vòng quay khoản phải trả có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Chỉ số này cao cho thấy doanh nghiệp thanh toán các khoản phải trả nhanh chóng, từ đó cải thiện dòng tiền và giảm thiểu chi phí lãi vay. Ngƣợc lại, chỉ số thấp cho thấy doanh nghiệp thanh toán các khoản phải trả chậm, gây ảnh hƣởng đến dòng tiền và tăng chi phí lãi vay. Vòng quay vốn lƣu động (Working Capital Turnover Ratio) là một chỉ số tài chính đo lƣờng hiệu quả của doanh nghiệp trong việc sử dụng vốn lƣu động để tạo ra doanh thu.
Chỉ số này cho biết số lần vốn lƣu động đƣợc sử dụng và tái tạo trong một thời gian nhất định. 12 𝐷𝑜𝑎𝑛ℎ 𝑡ℎ𝑢 𝑡ℎ𝑢ầ𝑛 𝑉𝑄 𝑉ố𝑛 𝑙ư𝑢 độ𝑛𝑔 = 𝑉ố𝑛 𝑙ư𝑢 độ𝑛𝑔 𝑏ì𝑛ℎ 𝑞𝑢â𝑛 Vòng quay vốn lƣu động có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Chỉ số này cao cho thấy doanh nghiệp sử dụng vốn lƣu động hiệu quả, từ đó cải thiện khả năng tạo ra doanh thu và lợi nhuận. Ngƣợc lại, chỉ số thấp cho thấy doanh nghiệp sử dụng vốn lƣu động kém hiệu quả, có thể dẫn đến tình trạng thiếu hụt vốn lƣu động và ảnh hƣởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Cơ cấu nguồn vốn và khả năng trả nợ Theo Brigham và Houston: “Khả năng thanh toán và cơ cấu vốn bao gồm tỷ lệ nợ trên tổng tài sản, tỷ lệ nợ trên VCSH, tỷ lệ nợ dài hạn trên tổng nợ, tỷ lệ vốn dài hạn trên tài sản dài hạn, khả năng thanh toán nợ và các chỉ số khác lãi suất cho vay, V. Các chỉ số này giúp các nhà phân tích hiểu đƣợc mức độ sử dụng nợ và khả năng trả nợ của một công ty, đồng thời chỉ ra các nguồn tài trợ cho hoạt động của công ty”. Hệ số tổng nợ trên tổng tài sản (Total Debt to Total Assets Ratio) là một chỉ số tài chính đo lƣờng mức độ doanh nghiệp sử dụng nợ để tài trợ cho tài sản của mình. Chỉ số này cho biết phần trăm tổng tài sản của doanh nghiệp đƣợc tài trợ bằng các khoản nợ.