Chương 1 đã đưa ra tổng quan nghiên cứu trước đây bao gồm các nghiên cứu tham khảo ở trong nước cũng như nghiên cứu nước ngoài liên quan đến chủ đề về tác động của quản trị VLĐ tới KNSL của DN. Những nghiên cứu trước đã sử dụng nhiều dữ liệu đa dạng bao gồm các DN thuộc các lĩnh vực ngành nghề khác nhau, khoảng thời gian nghiên cứu, cũng như các biến tác động khác nhau. Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có nhiều đề tài nghiên cứu về DN thép, vốn là lĩnh vực sản xuất trọng yếu của nền kinh tế. Bên cạnh đó nhiều đề tài lựa chọn thời gian nghiên cứu và các biến trong mô hình còn hạn chế về số lượng.
Do đó tác giả đã thực hiện đề tài này nhằm bổ sung vào những khoảng trống từ các nghiên cứu trước. 9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG TỚI KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA DOANH NGHIỆP 2. Những vấn đề cơ bản về quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp 2. Tổng quan về vốn lưu động của doanh nghiệp 2.
Khái niệm về vốn lưu động Trong bản từ điển Kinh tế học (Nguyễn Văn Ngọc, 2006) vốn lưu động được định nghĩa là khái niệm kế toán dùng để chỉ tài sản lưu động ngắn hạn của doanh nghiệp. Những tài sản này thường quay vòng (luân chuyển) khá nhanh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Nó bao gồm nguyên liệu, sản phẩm dở dang, tồn kho hay dự trữ thành phẩm, tài khoản cần thu và tiền mặt trừ các khoản nợ lưu động. Sự gia tăng quy mô hoạt động kinh doanh nhìn chung làm tăng mức nợ của doanh nghiệp và vì vậy cũng làm tăng số vốn luân chuyển cần thiết.
Nếu doanh nghiệp giảm được thời gian từ lúc thanh toán tiền mua nguyên liệu đến khi chuyển chúng thành sản phẩm, bán đi và thu được tiền mặt từ khách hàng, thì nó cũng giảm được mức vốn luân chuyển cần thiết. VLĐ được hiểu là phần vốn mà DN sử dụng để có thể mua sắm, hình thành tài sản lưu động cần thiết của DN và cũng là là yếu tố cần thiết để HĐKD của DN được diễn ra ổn định và phát triển (Phạm Kim Oanh, 2020). Vốn lưu động bao gồm giá trị của toàn bộ tài sản ngắn hạn, đó là những tài sản khả năng chuyển hoá tiền mặt trong một chu kỳ kinh doanh. Cấu trúc vốn lưu động gồm: Tiền mặt, chứng khoán khả nhượng khoản phải thu tồn kho chi phí trích trước.
Đặc điểm của vốn lưu động Do VLĐ là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động nên đặc điểm của VLĐ chịu sự chi phối bởi ba đặc điểm chính (Nguyễn Ngọc Diệp, 2014), (Ngô Thị Hằng, 2014). Thứ nhất, VLĐ thường xuyên vận động không ngừng qua các giai đoạn khác nhau trong quá trình SXKD. Cụ thể VLĐ đối với các DN sản xuất không ngừng vận động qua các giai đoạn sản xuất và lưu thông. Sự lặp đi lặp lại của vòng tuần hoàn lưu động càng lớn trong một khoảng thời gian thì hiệu quả sử dụng VLĐ ngày càng cao.
Thứ hai, trong quá trình vận động thì VLĐ luôn thay đổi hình thái vật chất, từ hình thái ban đầu là tiền tệ sang hình thái vật tư hàng hóa và cuối cùng quay lại hình 10 thái ban đầu của tiền tệ. VLĐ vận động qua 3 giai đoạn và liên tục lặp lại 1 vòng tuần hoàn VLĐ. Cụ thể đặc điểm của từng giai đoạn như sau: Giai đoạn 1 (T-H): Đây là giai đoạn dự trữ sản xuất. Ở giai đoạn này, VLĐ của DN từ hình thái VLĐ bằng tiền chuyển sang hình thái VLĐ bằng hiện vật mà cụ thể là vật tư dự trữ cho sản xuất.
Giai đoạn 2 (H-H’): Ở giai đoạn sản xuất, vật tư dự trữ được đưa vào chuẩn bị cho sản xuất, kết hợp với các yếu tố khác để tạo ra sản phẩm. VLĐ của DN từ hình thái vật chất này chuyển sang hình thái vật chất khác. Giai đoạn 3 (H’-T’): Trong giai đoạn lưu thông, sản phẩm do doanh nghiệp tạo ra được đưa vào tiêu thụ và thu tiền về. Ở giai đoạn này, VLĐ của DN từ hình thái hiện vật chuyển sang hình thái tiền tệ và vòng tuần hoàn VLĐ kết thúc.
Cuối cùng, VLĐ chuyển hóa toàn bộ giá trị một lần vào quá trình sản xuất kinh doanh và toàn bộ giá trị này được thu hồi một lần sau một chu kỳ SXKD. Vai trò của vốn lưu động Về mặt kinh tế: VLĐ là một bộ phận của vốn kinh doanh, là một bộ phận không thể thiếu được trong hoạt động SXKD của DN. Vốn không những đảm bảo khả năng mua sắm máy móc thiết bị và lao động để phục vụ cho quá trình SXKD, mà còn đảm bảo cho quá trình SXKD được diễn ra liên tục và thường xuyên. VLĐ là điều kiện vật chất không thể thiếu được của quá trình sản xuất, là một bộ phận trực tiếp hình thành nên thực thể của sản phẩm.
Trong cùng một lúc, VLĐ của DN được phổ biến khắp các giai đoạn luân chuyển và tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau. Muốn cho quá trình sản xuất được liên tục thì DN phải có đủ lượng VLĐ đầu tư vào các hình thái khác nhau. VLĐ còn là công cụ phản ánh và đánh giá quá trình vận động của vật tư, tức là phản ánh quá trình mua sắm, dự trữ sản xuất, tiêu thụ của DN. Bởi vậy, thông qua quá trình luân chuyển VLĐ còn có thể đánh giá một cách kịp thời đối với các mặt như mua sắm dự trữ sản xuất và tiêu thụ của DN (Deloof, 2003; Howorth và Westhead, 2003).
Về mặt pháp lý: Mỗi khi DN muốn thành lập thì điều kiện đầu tiên là DN đó phải có lượng vốn nhất đinh. Khi đó địa vị pháp lý của DN mới được xác lập và doanh nghiệp mới đi vào hoạt động SXKD. Nếu điều kiện vốn không được đảm bảo theo yêu cầu của pháp luật thì DN sẽ bị chấm dứt hoạt động. Như vậy, vốn có thể xem là một 11 trong những cơ sở quan trọng nhất để đảm bảo sự tồn tại tư cách pháp lý DN trước pháp luật (Nguyễn Ngọc Diệp, 2014).
Phân loại vốn lưu động Thông thường người ta thường có phân loại VLĐ dưới 3 hình thức hay cụ thể bao gồm: quy trình hoạt động của DN, hình thái biểu hiện và nguồn hình thành (Hà Quốc Thắng, 2019). Phân loại theo quy trình hoạt động của DN Theo cách này, VLĐ sẽ được phân thành loại: VLĐ trong giai đoạn lưu thông: Vốn thành phẩm, vốn trong thanh toán, vốn đầu tư ngắn hạn… VLĐ trong giai đoạn sản xuất: sản phẩm bán thành phẩm, dở dang… VLĐ trong giai đoạn dự trữ: công cụ, phụ tùng, nguyên vật liệu… Cách phân loại này giúp DN thấy rõ vai trò của mỗi loại VLĐ trong quá trình sản xuất, từ đó bố trí cơ cấu vốn hợp lý cho từng giai đoạn để HĐKD, sản xuất của đơn vị luôn nhịp nhàng, liên tục. Phân loại theo hình thái biểu hiện Với kiểu phân chia này, VLĐ sẽ được chia thành 2 loại: Vốn bằng tiền: Tiền mặt, tiền gửi ngân hàng… Vốn vật tư, hàng hóa: Vốn HTK, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm… Cách phân loại này giúp DN đánh giá cụ thể và rõ ràng mức dự trữ tồn kho và khả năng thanh toán của chính họ. Phân loại theo nguồn hình thành Dựa vào nguồn hình thành có thể chia ra: Nguồn VCSH: là nguồn VLĐ thuộc quyền sở hữu của chính DN, được DN quyết định sử dụng và định đoạt toàn quyền.
Tùy theo loại hình DN mà nguồn VCSH có nhiều hình thái khác nhau: vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, vốn do chủ doanh nghiệp tự bỏ ra; vốn do cổ đông đóng góp trong công ty cổ phần; vốn góp từ các thành viên trong DN liên doanh; vốn tự bổ sung từ lợi nhuận DN … Nợ phải trả: là các khoản VLĐ được hình thành từ khoản vay các ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức tài chính khác; khoản vay thông qua phát hành trái 12 phiếu hoặc các khoản nợ khách hàng chưa thanh toán. DN chỉ có quyền sử dụng trong một thời hạn nhất định. Quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp 2. Khái niệm quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp Quản trị VLĐ liên quan đến việc sử dụng nợ ngắn hạn tài trợ cho tài sản lưu động ở mức hợp lý nhằm cung cấp đủ tiền cho công ty để đảm bảo chi trả nghĩa vụ nợ ngắn hạn và các chi phí hoạt động.
Một mức đầu tư tài sản lưu động “rộng rãi” giúp DN duy trì khả năng thanh toán tốt và đảm bảo đạt được mức lợi nhuận dự kiến tốt hơn nhưng tỷ suất lợi nhuận đạt được thường không cao (Smith, 1980; Nguyễn Thị Nga Dung, 2020). VLĐ liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất của công ty cũng như sự phát triển của DN. Nếu DN có VLĐ dương thì đồng nghĩa với việc tài sản ngắn hạn DN đang lớn hơn các khoản nợ ngắn hạn và trong điều kiện hoạt động bình thường DN có thể quy đổi tài sản thành tiền để thanh toán các khoản nợ tới hạn. Như vậy, SXKD của DN diễn ra bình thường.
Ngược lại, nếu DN có VLĐ âm, tức là tài sản lưu động ít hơn các khoản nợ ngắn hạn. Điều này có nghĩa, nếu tất cả tài sẩn ngắn hạn được chuyển hóa thành tiền thì vẫn không đủ để thanh toán các khoản nợ của DN.Và nếu không có khả năng thanh toán thì DN có khả năng sẽ phá sản (Nguyễn Ngọc Diệp, 2014). Nội dung quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp Quản lý VLĐ là duy trì sự cân bằng tối ưu giữa các bộ phận cấu thành vốn lưu động. Thành công trong kinh doanh phụ thuộc rất nhiều vào khả năng của các nhà quản lý tài chính trong việc quản lý hiệu quả các khoản phải thu và hàng tồn kho (Filbeck và Krueger, 2005).
Ngoài ra, quản trị vốn lưu động liên quan đến các quyết định quản trị tài sản và nợ ngắn hạn, bao gồm: quản trị tiền mặt, quản trị khoản phải thu, quản trị HTK (Trần Thu Thảo, 2016). Quản trị tiền mặt Tiền mặt được xem là tài sản không sinh lợi, vì vậy mục tiêu của quản trị tiền mặt là tối thiểu hoá lượng tiền mặt nắm giữ, nhưng vẫn đảm bảo sự cân đối giữa nhập qu và xuất qu diễn ra một cách bình thường.