chương 1 đã khẵng định được tính tất yếu của vấn đề nghiên cứu được lựa chọn, đảm bảo ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Nội dung chương này đã chỉ rõ 2 mục tiêu cụ thể của vấn đề nghiên cứu và xác định 2 câu hỏi nghiên cứu tương ứng. Bên cạnh đó, đề tài cũng đã chỉ ra đối tượng nghiên cứu và giới hạn phạm vi nghiên cứu về nội dung, thời gian và không gian. Sau khi khẳng định ý nghĩa khoa học và thực tiễn của của đề tài.
Cuối cùng, chương này đã cung cấp thông tin khái quát cấu trúc đề tài bao gồm 5 chương nội dung chính. CƠ SỞ L THUYẾT, NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM CÓ LIÊN QUAN 2. Lý thuyết chu kỳ vốn lưu động (Working capital cycle theory) Vốn lưu động là số vốn mà công ty phải huy động để tài trợ cho tài sản ngắn hạn (tài sản lưu động - current assets), đó là khoản chênh lệch giữa giá trị tài sản ngắn hạn trừ đi các khoản phải trả ngắn hạn (Park C., 1963; Ngô Kim Phượng và cộng sự, 2016). Xem xét trong một chu kỳ hoạt động kinh doanh, vốn đầu tư vào tài sản ngắn hạn sẽ luân chuyển qua nhiều hình thái khác nhau, từ nguyên vật liệu chuyển hóa thành sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, rồi trở thành thành phẩm, tiếp theo là các khoản phải thu và cuối cùng trở thành tiền.
Để đảm bảo cho chu kỳ hoạt động kinh doanh được xuyên suốt, cần đảm bảo các hình thái tài sản ngắn hạn này được tài trợ đầy đủ và liên tục; vì vậy quản trị vốn lưu động có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự sống còn của các doanh nghiệp. Theo lý thuyết phân tích tài chính doanh nghiệp, chu kỳ vốn lưu động hay còn gọi là chu kỳ tiền trong kinh doanh là thước đo cho biết doanh nghiệp quản trị vốn lưu động như thế nào, có hiệu quả hay không (Ngô Kim Phượng và các cộng sự, 2016; Richard A. Brealey và các cộng sự, 2008); theo đó, chu kỳ vốn lưu động là khoảng thời gian trung bình tính từ khi doanh nghiệp trả tiền mua hàng cho đến khi doanh nghiệp thu tiền bán hàng, thể hiện qua hình 1.2 Chu kỳ vốn lưu động Nguồn: Ngô Kim Phượng và các cộng sự (2016), Glen Arnold (2013).2, chu kỳ vốn lưu động được tính bằng thời gian luân chuyển tồn kho cộng thời gian thu tiền bán hàng và trừ thời gian trả tiền mua hàng. Một doanh nghiệp có thể rút ngắn chu kỳ vốn lưu động cho thấy tốc độ luân chuyển vốn lưu động trong chu kỳ hoạt động kinh doanh nhanh hơn và khi đó cho thấy rằng doanh nghiệp quản trị vốn lưu động hiệu quả hơn, kết quả là doanh nghiệp có thể vừa tăng khả năng sinh lời của vốn, vừa tăng khả năng tạo tiền từ hoạt động kinh doanh và tiết kiệm chi phí sử dụng vốn; đó là doanh nghiệp có thể tiết kiệm được vốn lưu động trong chu kỳ hoạt động kinh doanh.
Để rút ngắn chu kỳ vốn lưu động, doanh nghiệp có thể thực hiện các biện pháp nhằm rút ngắn thời gian luân chuyển tồn kho, rút ngắn thời gian thu tiền bán hàng hoặc kéo dài thời gian trả tiền mua hàng; tuy nhiên việc rút ngắn chu kỳ vốn lưu động vẫn bị hạn chế bởi áp lực cạnh tranh, buộc các doanh nghiệp phải kéo dài thời gian thu tiền bán hàng do phải mở rộng chính sách tín dụng thương mại, hoặc rút ngắn chu kỳ vốn lưu động bằng biện pháp kéo dài thời gian mua chịu cũng có những hạn chế như công ty phải hy sinh chi phí cơ hội mang lại từ các khoản chiết khấu thanh toán được hưởng, vì vậy rút ngắn thời gian tồn kho là biện pháp mà các doanh nghiệp thường tập trung nghiên cứu nhằm rút ngắn chu kỳ luân chuyển vốn lưu động (Ngô Kim Phượng và các cộng sự, 2016). Như vậy, lý thuyết về chu kỳ vốn lưu động cho thấy quản trị vốn lưu động có tác động tích cực đến dòng tiền hoạt động của các doanh nghiệp, thể hiện qua rút ngắn chu kỳ vốn lưu động và từ đó doanh nghiệp tiết kiệm vốn lưu động. Lý thuyết về dòng tiền hoạt động kinh doanh( Operationg cash flow): Dòng tiền hoạt động kinh doanh hay còn gọi là lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động kinh doanh là các khoản tiền thu vào, các khoản tiền chi ra liên quan đến thu nhập, chi phí của doanh nghiệp và xảy ra thường xuyên trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Đây là dòng tiền quan trọng nhất vì nó thể hiện khả năng tạo tiền từ nội tại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đáp ứng các nhu cầu trả nợ vay, chia lãi cho các chủ sở hữu và gia tăng mở rộng đầu tư tài sản cố định,.
Ngoài ra, các thông tin từ dòng tiền hoạt động kinh doanh kỳ này là cơ sở 8 quan trọng cho việc lập kế hoạch dòng tiền kỳ tới (Ngô Kim Phượng và các cộng sự, 2016). Dòng tiền ròng hoạt động kinh doanh bao gồm các khoản thu, chi liên quan hoạt động sản xuất, thương mại và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp. Nếu dòng tiền ròng hoạt động kinh doanh lớn hơn 0 cho thấy doanh nghiệp đảm bảo khả năng tạo tiền và khoản tiền thặng dư này là cơ sở để doanh nghiệp đảm bảo khả năng chia lãi cho các chủ sở hữu; ngoài ra, khoản tiền thặng dư từ hoạt động kinh doanh cũng chính là cơ sở để doanh nghiệp thực hiện cam kết trả nợ gốc vay cho các chủ nợ; hay doanh nghiệp có thể dùng tiền thặng dư từ hoạt động kinh doanh để tài trợ cho nhu cầu mở rộng đầu tư và gia tăng năng lực sản xuất kinh doanh. Nếu dòng tiền ròng hoạt động kinh doanh nhỏ hơn hoặc bằng 0 cho thấy doanh nghiệp không tạo ra tiền trong kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh, trường hợp dòng tiền ròng hoạt động kinh doanh nhỏ hơn 0 còn thể hiện doanh nghiệp rơi vào tình trạng thiếu hụt tiền từ hoạt động kinh doanh và khi đó, doanh nghiệp xuất hiện nhu cầu huy động nguồn tài trợ bên ngoài thông qua đi vay hoặc nhận vốn góp trực tiếp từ chủ sở hữu, hoặc thậm chí là doanh nghiệp phải thu hẹp đầu tư do tăng trưởng nóng dẫn đến thiếu hụt tiền.
Dòng tiền hoạt động kinh doanh có thể được tiếp cận bằng phương pháp trực tiếp trên cơ sở phân tích và tổng hợp các khoản thu chi từ các tài khoản vốn bằng tiền, bao gồm: tiền thu từ bán hàng hóa, sản phẩm và cung cấp dịch vụ, tiền chi mua các yếu tố sản xuất kinh doanh,.hoặc có thể tiếp cận bằng phương pháp gián tiếp trên cơ sở điều chỉnh từ lợi nhuận. Theo đó, dòng tiền hoạt động kinh doanh có chịu sự tác động của tăng/giảm hàng tồn kho, tăng/giảm các khoản phải thu và tăng/giảm các khoản phải trả,. vì vậy quản trị vốn lưu động là yếu tố quan trọng quyết định dòng tiền hoạt động kinh doanh. Lý thuyết dựa vào giá trị (Value based theory of the firm): Lý thuyết này được phát triển bởi Alderson năm 1957 và sau đó là Drucker năm 1973 , cho rằng hiệu quả của hoạt động tham khảo trong khuôn khổ của một doanh nghiệp đáng tin cậy được đánh giá bằng công cụ giám sát dựa trên giá trị; đó là công cụ tổng hợp các khái niệm tổng quát và có ý nghĩa cho việc hình thành 9 một lý thuyết chính xác về quản trị dựa trên giá trị.
Theo đó, lý thuyết thừa nhận rằng tất cả các doanh nghiệp đều có dòng tiền ra và dòng tiền vào. Dòng tiền ra liên quan đến các yếu tố đầu vào, trong khi dòng tiền vào liên quan đến doanh thu mà doanh nghiệp kiếm được; điều này có nghĩa là doanh nghiệp thực hiện một vòng quay vốn, có thể thúc đẩy hoặc cản trở khả năng tăng trưởng và năng suất của doanh nghiệp. Việc xem xét các lý thuyết dựa trên giá trị của công ty khi hoạt động tham khảo được mô tả trong điều khoản của một lý thuyết chính xác được chi phối bởi một ngôn ngữ nào đó mà bản thân nó là một tập hợp của những khẳng định và có ý nghĩa theo quan điểm của việc tạo ra giá trị gia tăng. Chi phí của một doanh nghiệp được xác định bởi khả năng của doanh nghiệp tạo ra dòng tiền trong một thời gian dài; các nhu cầu tài trợ đối với doanh nghiệp được kết nối với các hoạt động bền vững của doanh nghiệp.
Như vậy, lý thuyết dựa vào giá trị cho thấy một doanh nghiệp có thể quản trị vốn nói chung và quản trị vốn lưu động nói riêng có hiệu quả sẽ tác động tích cực đến dòng tiền hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Lý thuyết chi phí giao dịch (Transaction cost theory of the firm): Lý thuyết chi phí giao dịch lần đầu tiên được phát triển bởi Commons năm 1934, công nhận rằng giao dịch là thành phần cơ bản của phân tích kinh tế trong một tổ chức. Nội dung lý thuyết tìm cách giải thích lý do tại sao doanh nghiệp tồn tại, và lý do tại sao các doanh nghiệp mở rộng hoặc mở ra các hoạt động bên ngoài. Lý thuyết mặc nhiên cho rằng các doanh nghiệp cố gắng giảm thiểu các chi phí trao đổi nguồn lực và giảm thiểu các chi phí hành chính của các giao dịch trong doanh nghiệp.
Theo thời gian, các doanh nghiệp tìm kiếm những cách tiết kiệm hơn trong giao dịch, ngược lại với các chi phí hành chính thực hiện các hoạt động nội bộ. Lý thuyết nhận thấy các định chế và thị trường tồn tại nhiều hình thức khác nhau có thể tổ chức và điều phối các giao dịch kinh tế. Khi chi phí giao dịch bên ngoại cao hơn so với chi phí nội bộ của doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ phát triển, bởi vì các doanh nghiệp có thể thực hiện các hoạt động với chi phí thấp 1 hơn, hơn là nếu các hoạt động được thực hiện trên thị trường. Như vậy, doanh nghiệp sẽ mở rộng hoạt động ra ngoài nếu có thể thực hiện với chi phí thấp hơn hoạt động nội bộ và chi phí giao dịch phát sinh khi hàng hóa hoặc dịch vụ được chuyển đổi từ giai đoạn này sang giai đoạn khác; và theo đó, lý thuyết này gợi ý doanh nghiệp tập trung vào quản trị vốn lưu động để tăng dòng tiền hoạt động kinh doanh.
Các nghiên cứu thực nghiệm trước có liên quan 2. Các nghiên cứu nước ngoài Haitham Nobanee và Maryam Al Hajjar (2009) mối quan hệ giữa quản trị vốn lưu động, dòng tiền hoạt động kinh doanh và hiệu quả tài chính doanh nghiệp bằng cách sử dụng phân tích hồi quy dữ liệu bảng động (Dynamic panel data).