CHƯƠNG 1. TONG QUAN NGHIÊN CỨU VA CƠ SỞ LÝ THUYET 1. Tổng quan nghiên cứu về quản trị công ty, hiệu quả hoạt động doanh nghiệp và tác động của quản trị công ty lên hiệu quả hoạt động doanh nghiệp 1. Các nghiên cứu liên quan đến Quản trị công ty Quản trị công ty gần đây đã nhận được nhiều sự quan tâm do Adelphia, Enron, WorldCom và các vụ bê bối nổi tiếng khác, là động lực thúc đây các quy định gần đây của Hoa Kỳ như Đạo luật Sarbanes-Oxley năm 2002 ra đời.
Đây được coi là quy định quản trị công ty sâu rộng nhất trong 70 năm qua (Byrnes và cộng sự, 2003). Nếu quản trị công ty tốt hơn có liên quan đến hiệu quả hoạt động của công ty tốt hơn, thì các công ty được quản lý tốt hơn sẽ hoạt động tốt hơn các công ty được quản lý kém hơn. Trong nghiên cứu “A Survey of Corporate Governance”, Shleifer và cộng sự (2012) đã khảo sát các nghiên cứu về quản trị công ty, trong đó đặc biệt lưu ý đến tầm quan trọng của việc bảo vệ pháp lý nhà đầu tư và sự tập trung sở hữu trong các hệ thống quản trị công ty trên thế giới, trong đó đặt ra các van đề cho các nghiên cứu về QTCT bao gồm vai trò và động lực của người quản lý cấp cao và giá trị của doanh nghiệp, tác động của thé chế và luật pháp, cơ chế sở hữu tập trung và tác động của cổ đông tổ chức. Gần đây, các nghiên cứu về quản trị công ty tập trung vào các chủ đề như vấn đề người đại diện và vấn đề thao túng của hội đồng quản trị (Zhu, 2016), cơ cau sở hữu (Phung, 2016), cải tổ doanh nghiệp nhà nước (Anh, 2013), lương bổng người quản ly (Adams, 2009), vai trò của hội đồng quan trị và thành viên HĐQT độc lập (Brennan, 2005), cơ chế bảo vệ nhà đầu tư (Shufa, 2010), tương quan quản trị công ty và kết quả doanh nghiệp, khuôn khổ pháp lý quản trị công ty, những đặc thù về quản trị công ty tại các nước có nền kinh tế chuyên đổi (Black và cộng sự, 2012).
Tại Việt Nam, quản trị công ty đang trở thành chủ đề được quan tâm trong các cuộc thảo luận của các quan chức chính phủ, đặc biệt khi Chính phủ cam kết nhanh chóng cải cách các doanh nghiệp nhà nước hay còn gọi là “cỗ phần hóa”. Một trong những nhân tố quan trọng của cải cách doanh nghiệp nhà nước là minh bạch hóa tài chính và tính trách nhiệm của nguyên lý quản trị kết quả để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp này và thu hút đầu tư nước ngoài. Mặt khác, quản trị công ty được xem như một chất xúc tác trong dài han dé thay đổi tư duy kinh doanh người Việt Nam, qua đó đáp ứng tốt hơn đòi hỏi của các nhà đầu tư nước ngoài và nên kinh tế toàn cầu. Toan và Walker (2008) đã có nghiên cứu thực nghiệm về quan trị công ty của các công ty niêm yết - giai đoạn phát triển ban đầu - mức độ phi chính thức cao trong khu vực doanh nghiệp - khung pháp lý hiện hành - các nguyên tắc thực hiện do OECD xác định - các công ty niêm yết cần cải thiện quan trị công ty dé đảm bảo tính minh bạch của thị trường, bảo vệ nhà đầu tư và quản lý hiệu quả.
Nghiên cứu sử dụng 198 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán tại Việt Nam, đưa ra kết luận rằng các công ty cần nâng cao quy chế quản trị công ty dé giúp thị trường minh bạch hơn, bảo vệ lợi ích cổ đông, từ đó phát triển thị trường chứng khoán - kênh dẫn vốn quan trọng của nền kinh tế. Nhâm Phong Tuấn & Nguyễn Anh Tuấn (2013) đã có nghiên cứu thảo luận về vấn đề đại diện của các công ty đại chúng tại Việt Nam. Nghiên cứu tập trung vào lý thuyết nền tảng của quản trị công ty là lý thuyết đại diện. Ly thuyét nay lam co so cho viéc phan tich thuc trang van dé dai dién, cu thé la cau trúc hội đồng quản trị của các công ty đại chúng niêm yết trên hai sàn HNX va HOSE của Việt Nam va chủ yéu sử dụng phương pháp nghiên cứu tại bàn với việc thu thập tài liệu và số liệu thứ cấp dé phân tích thực trạng các công ty đại chúng niêm yết, chi ra sự suy giảm trong kết quả áp dụng những nguyên tắc quản trị công ty hiệu quả, từ đó đưa ra một vài khuyến nghị về chính sách cho cơ quan quản lý.
Một nghiên cứu rộng hơn của tác giả Trương Thị Nam Thắng (2009), “Nghiên cứu sự điều chỉnh quản trị công ty ở Đông Á sau khủng hoảng” tại các nước Đông Á đã đề cập cơ sở thực tiễn cho sự điều chỉnh khuôn khổ thê chế quản trị công ty ở các nước Đông Á trong đó có Việt Nam sau khủng hoảng năm 1997. Bài báo của Đào Thanh Tùng (2008), “Chính sách và thực thi quản trị công ty tại các công ty cô phần hóa tại Việt Nam” (The policy and practice of corporate governance in Vietnam’s Equitised companies). Trong đây, tac giả đánh giá kết qua thực hiện chính sách quản trị công ty trong các doanh nghiệp cô phần hóa tại Việt Nam, đồng thời đề xuất kiến nghị nhằm xây dựng mô hình QTCT phù hợp với điều kiện phát triển doanh nghiệp ở Việt nam. Đồng thời, tác gia Nguyễn Đình Cung (2009), “Co sở khoa học hoàn thiện chế độ quản trị công ty cổ phần thúc đây phát triển kinh tế ở Việt Nam”, bước đầu đưa ra những định hướng về quản lý nhằm hoàn thiện chế độ quản trị các công ty cô phan.
Tác giả Tran và các cộng sự (2014) lại có một bài nghiên cứu đánh giá mức độ phù hợp của mô hình “một kiểu phù hợp với tat cả” như vậy đối với quốc gia đang phát triển của Việt Nam. Các tác giả cho rằng không thé có một mô hình quản trị chung cho tat cả các doanh nghiệp ở một nước đang phát triển như Việt Nam. Các phát hiện của tài liệu phân tích này là có ba yếu tố chính (chính phủ, các thể chế quốc tế và bản chất của hoạt động kinh doanh) phù hợp và là trung tâm của sự phát triển quản trị công ty trong nước. Nhóm tác giả nhận thay chất lượng quản trị công ty của Việt Nam ở mức trung bình so với thông lệ quốc tế.
Việt Nam van còn một chặng đường dài phía trước dé xây dựng và áp dụng các chính sách và thông lệ quản trị công ty hiệu quả, đồng thời thúc day các hành vi kinh doanh có đạo đức và ra quyết định đúng dan ở cấp hội đồng quan tri. Các nghiên cứu về hiệu quả hoạt động doanh nghiệp Đối với các bên liên quan như cổ đông, ban giám đốc, chủ nợ, nhà cung cấp và người tiêu dùng, hiệu quả hoạt động của một công ty là một chỉ tiêu rất quan trọng để ra quyết định kinh doanh và đầu tư. Nghiên cứu về hiệu quả hoạt động kinh doanh được phát triển từ lý thuyết tổ chức và quản trị chiến lược (Murphy, 1996). Các chỉ tiêu thường được sử dụng dé phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh là các hệ sé giá trị kế toán như tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên doanh thu thuần (ROS), ty lệ lợi nhuận sau thuế trên tổng tai san (ROA) và tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) (Mehran, 1995; Ang, Cole va Line, 2000).
Tuy nhiên, các chỉ tiêu đo lường kết quả kinh doanh có thé chịu tác động bởi nhiều yếu tổ như mục tiêu kinh doanh, quy mô và tuổi đời của doanh nghiệp. Các nghiên cứu của Baard và Van (2004), Kokko và SJöholm (2004), Panco va Korn (1999), Hansen và cộng sự (2002) cũng cho thấy răng quy mô và tuôi đời của doanh nghiệp là các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh. Zeitun và cộng sự (2007) cũng cho thấy, có mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính (Leverage), tuổi đời doanh nghiệp (Age), quy mô doanh nghiệp (Size), thuế suất thu nhập doanh nghiệp (Tax) và tỷ trọng tài sản cố định hữu hình (Tangibility) với hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được đo bằng Tobin’s Q. Nghiên cứu của tác giả Tran Hùng Son va cộng sự (2008) cho thay rang tỷ số nợ có tác động tích cực đến kết quả kinh doanh, nhưng chưa có bằng chứng về mối quan hệ của quy mô doanh nghiệp với hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Bên cạnh đó, Nguyễn Quốc Nghi (2010) đã chứng minh mức độ tiếp cận các chính sách hỗ trợ Chính phủ ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời các yếu tố xã hội và tốc độ tăng trưởng doanh thu cũng ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh. Các nghiên cứu của Gombola và Ketz (1983), Ho và Wu (2006), Cinca Molinero, Larraz (2005), Dursun và cộng sự (2013) kiểm tra các yếu tố quyết định hiệu quả hoạt động của công ty được đo bằng lợi nhuận trên tài sản (ROA) và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE). Alfredo Koltar, Campopiano và Cassia (2013) đã nghiên cứu các yếu tổ giải thích hiệu quả hoạt động của công ty băng cách đo lường vai trò của cơ cầu sở hữu, quy mô công ty, tuổi công ty và tài sản hữu hình được tiến hành trên 494 công ty gia đình tư nhân quy mô vừa và nhỏ ở Y. Dựa trên lý thuyết đại điện và các nghiên cứu trước về các công ty gia đình, các tác giả đã phát triển các lập luận chỉ ra mối quan hệ hình U giữa mức độ phân tán sở hữu gia đình và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.
Jeremy và Peter (2008) đã kiểm tra các yêu tố quyết định sự biến thiên của hiệu quả hoạt động. Thông qua việc nghiên cứu 285 công ty Úc, nghiên cứu này khám phá tầm quan trọng tương đối của các nguồn lực riêng biệt và các biến cơ cấu ngành trong việc giải thích sự khác biệt về hiệu quả ở cấp độ công ty. Trên toàn bộ mẫu tông hợp, kết quả chứng minh răng các nguồn lực quan trọng hơn cơ cấu ngành. Trong các công ty dịch vụ, các nguồn lực được coi là quan trọng hơn nhiều dé giải thích sự khác biệt về hiệu suất so với các công ty sản xuất và trong cả các công ty sản xuất và dịch vụ, tài sản vô hình và năng lực giải thích được cho sự biến thiên hiệu quả hoạt động trong khi tài sản hữu hình thì không.
Orkun Bozkurt và cộng sự (2013) đã xác định tác động của công nghệ, quy mô và tuôi tac của công ty đôi với hiệu suât đôi mới của công ty.