Chương 1- Cơ sở lý luận về ảnh hưởng của quản trị công ty đến sai phạm báo cáo tài chính. Chương 2- Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố quản trị công ty đến sai phạm trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam. Chương 3: Các giải pháp tăng cường vai trò của quản trị công ty và các đối tượng có liên quan trong việc ngăn ngừa và phát hiện sai phạm trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam. Tổng quan tài liệu Nội dung quản trị công ty đã được nghiên cứu tại nhiều quốc gia, trong nhiều thời điểm và phạm vi khác nhau: Tại Trung Quốc, Yi Zhang (2006) đã thu thập và phân tích một tập hợp chứa thông tin chi tiết các đặc điểm quản trị công ty của hai mẫu các doanh nghiệp, một mẫu gồm 160 doanh nghiệp niêm yết Trung Quốc đã vi phạm Luan van 4 pháp luật chứng khoán thời kỳ 1993- 2003 và một mẫu 160 doanh nghiệp không mắc phải các vụ bê bối có kích thước, ngành nghề tương đương.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tại Trung Quốc, đặc điểm sở hữu doanh nghiệp có liên quan đến xác suất một doanh nghiệp mắc phải sai phạm, trong khi các đặc điểm quản trị công ty khác như quy mô hội đồng quản trị, sự độc lập của hội đồng quản trị và thể chế sở hữu thì không. Những phát hiện này cho thấy rằng trong quản lý chung, cơ chế không giúp tránh được những vụ bê bối doanh nghiệp nghiêm trọng ở Trung Quốc. Hơn nữa, phân tích cũng chỉ ra rằng mức độ phát triển của hệ thống luật pháp của một quốc gia có liên quan đến xác suất một doanh nghiệp mắc phải sai phạm. Các bằng chứng cho thấy trong thị trường mới nổi Trung Quốc, sự phát triển của pháp luật là một yếu tố quan trọng hơn cơ chế quản trị công ty trong việc ảnh hưởng một doanh nghiệp có lựa chọn gian lận.
Nói cách khác, do sự yếu kém của hệ thống pháp luật, cơ chế quản trị công ty không có hiệu quả ở Trung Quốc. Năm 2013, Nadia Smaili, Réal Labelle tiến hành nghiên cứu trên mẫu gồm 107 doanh nghiệp Canada sai phạm ở ba cấp độ (doanh nghiệp có thể xác định lại, doanh nghiệp bị đề nghị ngừng hoạt động và doanh nghiệp lừa đảo) và 107 doanh nghiệp không sai phạm có cùng quy mô, ngành nghề, cùng niêm yết trên thị trường chứng khoán Canada nhằm xem xét mức độ mà quản trị công ty hoạt động như một phương tiện hiệu quả bảo vệ các nhà đầu tư đối với những sai phạm kế toán. So sánh với các doanh nghiệp không sai phạm, các tác giả thấy rằng các doanh nghiệp sai phạm: (1) có ít giám đốc độc lập trong ban giám đốc và ủy ban kiểm toán hơn, (2) gần đây đã thay đổi kiểm toán viên, (3) có một giám đốc điều hành cũng là chủ tịch, và (4) cho thấy sự giao tiếp kém giữa ủy ban kiểm toán và kiểm toán viên. Các doanh nghiệp này tìm cách đáp ứng nhu cầu tài chính của họ thông qua nơi riêng lẻ chứ không phải là quỹ công cộng, điều đó phù hợp với thực tế là các tổ chức phát Luan van 5 hành báo cáo có sai phạm ít có khả năng trở lại vị trí trên thị trường công cộng để đáp ứng nhu cầu tài chính của họ.
So với các doanh nghiệp đã có thể xác định lại, các tác giả nhận thấy chất lượng quản trị thấp hơn trong những công ty bị đề nghị ngừng hoạt động và các công ty lừa đảo, nhưng không có sự khác biệt trong đặc điểm quản trị công ty giữa hai loại công ty này. Trong nghiên cứu của Nesrine Klai, Abdelwahed Omri về quản trị công ty và chất lượng báo cáo tài chính- trường hợp các công ty Tunisia (2011), các tác giả đã kiểm tra hiệu quả của cơ chế quản trị công ty đối với chất lượng báo cáo tài chính cho một mẫu gồm 22 công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Tunisia trong khoảng thời gian 1997-2007. Trước hết, các tác giả sử dụng mô hình của McNichols (2002) và mô hình của Ball và Brown (1968), Collins và Kothari (1989) để đo lường chất lượng thông tin tài chính. Tiếp theo đó, các tác giả xác định các đặc tính quản trị công ty của các công ty Tunisia, tập trung vào các yếu tố thuộc về hội đồng quản trị (thành phần, quy mô), kiểm toán độc lập và cơ cấu sở hữu.
Kết quả cho thấy rằng cơ chế quản trị công ty ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính của các công ty Tunisia. Đặc biệt, sức mạnh của cổ đông nước ngoài, sở hữu gia đình và các quỹ đầu tư làm giảm chất lượng báo cáo tài chính, trong khi sự kiểm soát của Nhà nước và các tổ chức tài chính có tác động tích cực đến chất lượng báo cáo tài chính. Trong nghiên cứu thực nghiệm trên các doanh nghiệp niêm yết Italia về mối quan hệ giữa đặc điểm báo cáo tài chính và gian lận báo cáo tài chính (2012), Giuseppe D’Onza, Rita Lamboglia đã xác định 26 công ty niêm yết liên quan đến các trường hợp bị cáo buộc gian lận kế toán trong thời kỳ 10 năm từ 2001- 2011. Kết quả phân tích hồi quy của 26 công ty gian lận và 26 công ty tương tự không gian lận cho thấy không có sự khác biệt đáng kể liên quan đến sự hiện diện của chủ sở hữu nội bộ giữa hai nhóm công ty.
Trong Luan van 6 khi đó, sự tồn tại của một ban kiểm soát phù hợp với các yêu cầu về quản trị công ty tại Italia làm giảm khả năng gian lận. Hơn nữa, khả năng báo cáo tài chính gian lận cũng giảm khi số lượng các cuộc họp ủy ban kiểm toán tăng lên. Có thể thấy, đã có nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa quản trị công ty và chất lượng báo cáo tài chính tại các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn là một quốc gia ít được nghiên cứu trong các công trình về quản trị công ty.
Trong một số cuốn sách và bài báo khoa học tổng quan về quản trị công ty tại nhiều quốc gia trên thế giới vẫn chưa thấy xuất hiện nội dung nào về Việt Nam. Ví dụ như cuốn “Corporate Governance and Accountability” (Solomon 2007) có giới thiệu khái quát về quản trị công ty tại 36 nước trên thế giới, bao gồm không chỉ các nước phát triển mà cả những nền kinh tế đang phát triển hoặc chuyển đổi như Ba Lan, Thái Lan, Indonesia, Hungary, nhưng hoàn toàn không có một dòng nào nhắc đến Việt Nam. Trong các nghiên cứu và báo cáo các năm sau này của Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế (OECD) như “Báo cáo về tình hình tuân thủ chuẩn mực và nguyên tắc quản trị công ty” (2006), cái tên Việt Nam được nhắc tới thường xuyên hơn với tư cách là một trong những quốc gia tham gia khảo sát. Đây là các khảo sát tình hình tiến bộ của các quốc gia dựa trên sáu nhóm yếu tố quản trị công ty được OECD khuyến nghị (đảm bảo cơ sở cho một khuôn khổ quản trị công ty hiệu quả; quyền của cổ đông và các chức năng sở hữu cơ bản; đối xử bình đẳng đối với cổ đông; vai trò của các bên có quyền lợi liên quan trong quản trị công ty; công bố thông tin và tính minh bạch; trách nhiệm của hội đồng quản trị).
Tại Việt Nam, nghiên cứu về chất lượng quản trị công ty ở cấp độ doanh nghiệp cũng đang trong giai đoạn phát triển. Có thể kể đến “Báo cáo thẻ điểm quản trị công ty” của Tổ chức tài chính Quốc tế (IFC) được thực hiện hằng Luan van 7 năm kể từ năm 2010. Dựa vào hệ thống sáu nguyên tắc quản trị công ty mà OECD khuyến cáo, IFC tiến hành đánh giá tình hình thực thi các nguyên tắc này ở 100 công ty niêm yết lớn nhất trên hai sàn giao dịch HSX và HNX. Kết quả bốn năm đều cho thấy mức điểm quản trị công ty của các công ty đại chúng lớn nhất Việt Nam chưa vượt quá mức 50%.
Một phân tích đầy đủ hơn về đặc điểm riêng có của quản trị công ty của các doanh nghiệp Việt Nam và ảnh hưởng của chúng đến sai phạm báo cáo tài chính còn đang bị bỏ ngỏ, và đó chính là mục tiêu mà nghiên cứu này hướng đến. Luan van 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ẢNH HƢỞNG CỦA QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẾN SAI PHẠM BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY VÀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1. Khái quát chung về quản trị công ty a.
Khái niệm quản trị công ty Quan niệm và nội dung của quản trị công ty ở các quốc gia khác nhau là rất khác nhau. Điều này do sự khác nhau về văn hóa, trình độ phát triển của thị trường tài chính, thể chế luật pháp tại mỗi nước… từ đó ảnh hưởng đến quyền của cổ đông, quyền của chủ nợ và các bên liên quan khác. Năm 1999, tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã xuất bản tài liệu “Các nguyên tắc quản trị công ty” trong đó đưa ra một định nghĩa về quản trị công ty được nhiều quốc gia, tổ chức chấp nhận và sử dụng định nghĩa này trong các nghiên cứu của mình: Quản trị công ty là những biện pháp nội bộ để điều hành và kiểm soát công ty, liên quan tới các mối quan hệ giữa ban giám đốc, hội đồng quản trị và các cổ đông của một công ty với các bên có quyền lợi liên quan. Quản trị công ty cũng tạo ra một cơ cấu để đề ra các mục tiêu của công ty, và xác định các phương tiện để đạt được mục tiêu đó, cũng như để giám sát kết quả hoạt động của công ty.
Quản trị công ty chỉ được cho là có hiệu quả khi khích lệ được ban giám đốc và hội đồng quản trị theo đuổi các mục tiêu vì lợi ích của công ty và của các cổ đông, cũng như phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát hoạt động của công ty một cách hiệu quả, từ đó khuyến khích công ty sử dụng các nguồn lực một cách tốt hơn. Luan van 9 Quản trị công ty được đặt trên cơ sở của sự tách biệt giữa quản lý và sở hữu doanh nghiệp. Công ty là của chủ sở hữu nhưng để công ty tồn tại và phát triển phải có sự dẫn dắt của hội đồng quản trị, sự điều hành của ban giám đốc và sự đóng góp của người lao động, những người này không phải lúc nào cũng có chung ý chí và quyền lợi.