phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu g m 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về mối quan hệ của quản trị công ty và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Chƣơng 2: Thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và hàm ý 7. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Ảnh hƣởng của quản trị công trị đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đã và đang đƣợc nhiều tác giả trong và ngoài nƣớc quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên đến thời điểm hiện tại theo tìm hiểu của tác giả, chƣa có nghiên cứu trong nƣớc chính thức nào về ảnh hƣởng của quản trị công ty đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp ngành hàng tiêu dùng trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. Qua tìm hiểu của tác giả, đã có nhiều nghiên cứu về quản trị công ty trên thế giới cũng nhƣ trong nƣớc ta trong những năm vừa qua.
Đa số các nghiên Luan van 5 cứu này tập trung vào ảnh hƣởng của đặc điểm Hội đ ng quản trị đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. tiến hành nghiên cứu về mối quan hệ giữa hiệu suất công ty với quy mô Hội đ ng quản trị và thành phần Hội đ ng quản trị của các công ty niêm yết trên Thị trƣờng Chứng khoán Ailen. Tác giả đã có bằng chứng cho thấy quy mô của Hội đ ng quản trị và tỷ lệ phần trăm thành viên không tham gia điều hành trong Hội đ ng quản trị tác động đến hiệu quả hoạt động của công ty. Với đề tài là "Các đặc điểm Hội đ ng quản trị có ảnh hƣởng đến hiệu suất công ty không?", Shukeri, Shin và Shaari (2012) đã lựa chọn một số đặc điểm của Hội đ ng quản trị làm biến độc lập bao g m quyền quản lý, quy mô Hội đ ng quản trị, sự độc lập của Hội đ ng quản trị, sự đa dạng về giới tính và đa dạng sắc tộc và ROE là biến phụ thuộc để đo lƣờng hiệu quả hoạt động của công ty với mẫu nghiên cứu g m 300 công ty niêm yết tại Malaysia đƣợc lựa chọn ngẫu nhiên từ mỗi ngành khác nhau.
Tác giả Masood Fooladi (2013) với mục tiêu nghiên cứu là trả lời câu hỏi: "Có mối quan hệ nào giữa quản trị doanh nghiệp và hoạt động của công ty?" đã sử dụng bốn đặc điểm của Hội đ ng quản trị g m sự độc lập của Hội đ ng quản trị, sự kiêm nhiệm giám đốc điều hành, cơ cấu sở hữu, và quy mô Hội đ ng quản trị làm biến độc lập và chỉ số ROE làm biến phụ thuộc với mẫu nghiên cứu ngẫu nhiên đƣợc lựa chọn từ các công ty niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Bursa Malaysia. Nghiên cứu của Johnny Jermias và Lindawati Gani (2013) nhằm kiểm tra mối quan hệ giữa sự kiêm nhiệm của Hội đ ng quản trị, tỷ lệ sở hữu vốn của Hội đ ng quản trị đến hiệu quả hoạt động công ty. Nghiên cứu lấy mẫu là các doanh nghiệp ở nƣớc Mỹ đƣợc liệt kê trong danh sách S&P 500 g m năm Luan van 6 trăm công ty có vốn hóa thị trƣờng lớn nhất đƣợc niêm yết trên NYSE hoặc NASDAQ và sử dụng lý thuyết tài nguyên và ngu n lực. Bên cạnh những nghiên cứu về đặc điểm của Hội đ ng quản trị tác động đến hiệu quả hoạt động của công ty còn có những đề tài với phạm vi rộng hơn về quản trị công ty ảnh hƣởng đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.
Đó là nghiên cứu “Quản trị công ty và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp: Minh chứng thực nghiệm từ các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố H Chí Minh” của tác giả Võ H ng Đức và Phan Bùi Gia Thủy (2013) đƣợc thực hiện với mục đích t m ra mối quan hệ giữa quản trị công ty và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp ở Việt Nam đã lựa chọn đặc điểm quy mô Hội đ ng quản trị,…làm các biến độc lập và chỉ số ROE là biến phụ thuộc cho đề tài nghiên cứu của mình. Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Tiến Thông (2017) ở Việt Nam về đặc điểm của quản trị công ty g m loại hình sở hữu công ty, tỷ lệ sở hữu vốn, cơ cấu sở hữu vốn, thành phần của Hội đ ng quản trị, sự kiêm nhiệm của Chủ tịch Hội đ ng quản trị và Giám đốc điều hành tác động đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp đƣợc đo lƣờng bởi ba biến phụ thuộc là tỷ suất sinh lời của tài sản, tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu và chỉ số Tobin’Q. Qua việc tổng quát hóa các kết quả nghiên cứu ở nƣớc ta và trên thế giới về quản trị công ty và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, tác giả nhận thấy có rất nhiều nhân tố về quản trị công ty mà chủ yếu là các nhân tố liên quan đến đặc điểm của Hội đ ng quản trị g m: quy mô của Hội đ ng quản trị, thành phần của Hội đ ng quản trị, tỷ lệ phần trăm thành viên không tham gia điều hành trong Hội đ ng quản trị, sự độc lập của Hội đ ng quản trị, sự kiêm nhiệm của Chủ tịch Hội đ ng quản trị và Giám đốc điều hành có thể ảnh hƣởng đến hiệu quả hoạt động đƣợc đo lƣờng bằng chỉ số ROA, ROE hay chỉ số Tobin’Q tại các doanh nghiệp niêm yết ở các nƣớc cũng nhƣ tại Việt Nam. Luan van 7 Những nghiên cứu thực nghiệm này sẽ là cơ sở để tác giả tiếp tục phát triển nghiên cứu.
Mặt khác, để có một hệ thống quản trị công ty hiệu quả thì các nhà lãnh đạo cần am hiểu những thách thức, rủi ro của nhóm ngành và quốc gia công ty đang hoạt động để từ đó xác định vấn đề còn t n tại và nhu cầu cần thiết của công ty, hƣớng tới mục tiêu lâu dài hay nói cách khác việc nghiên cứu về những nhân tố thuộc quản trị công ty ảnh hƣởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp ở một nhóm ngành cụ thể sẽ nhận đƣợc kết quả có giá trị cao hơn, giúp các doanh nghiệp trong ngành có kiến thức về những đặc điểm quản trị cần quan tâm khi quản trị công ty thuộc các nhóm ngành khác nhau. Tuy nhiên chƣa có nghiên cứu nào đƣợc thực hiện trên một nhóm ngành cụ thể để chỉ ra các nhân tố quản trị công ty có ảnh hƣởng nhƣ thế nào đến hiệu quả hoạt động với những đặc điểm riêng có của ngành, từ đó rút ra hàm ý chính sách phù hợp. Trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của các tác giả trƣớc đây, luận văn sẽ điều chỉnh và vận dụng cho phù hợp với những đặc điểm của ngành hàng tiêu dùng. Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề về lý luận và thực tiễn liên quan đến mối quan hệ giữa quản trị công ty và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp ngành hàng tiêu dùng niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam.
Luan van 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ẢNH HƢỞNG CỦA QUẢN TRỊ CÔNG TY VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Hiệu quả có thể đƣợc hiểu là các lợi ích kinh tế đạt đƣợc từ hoạt động sản xuất kinh doanh. Bản chất của hiệu quả chính là kết quả lao động xã hội, đƣợc xác định bằng cách so sánh tỷ lệ giữa kết quả có đƣợc cuối cùng với hao phí lao động mất đi. Hiệu quả của doanh nghiệp đƣợc xem xét một cách tổng thể bao g m nhiều hoạt động. Theo giáo trình quản trị kinh doanh tổng hợp trong các doanh nghiệp của Ngô Đ nh Giao (1997) cho rằng: “Hiệu quả kinh tế của một hiện tƣợng (hoặc quá trình) kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh tr nh độ sử dụng các ngu n lực (nhân lực, vật lực, tài lực, tiền vốn) để đạt đƣợc mục tiêu xác định, nó biểu hiện mối quan hệ tƣơng quan giữa kết quả thu đƣợc và toàn bộ chi phí bỏ ra để có kết quả đó, phản ánh đƣợc chất lƣợng của hoạt động kinh tế đó”.
Từ định nghĩa về hiệu quả kinh tế của một hiện tƣợng nhƣ trên, ta có thể hiểu hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh tr nh độ sử dụng các ngu n lực để đạt đƣợc mục tiêu đã đặt ra, nó biểu hiện mối tƣơng quan giữa kết quả thu đƣợc và những chi phí đã bỏ ra để có đƣợc kết quả đó, độ chênh lệch giữa hai đại lƣợng này càng lớn thì hiệu quả càng cao. Trên góc độ này thì hiệu quả đ ng nhất với lợi nhuận của doanh nghiệp và khả năng đáp ứng về chất lƣợng của sản phẩm đối với nhu cầu của thị trƣờng. Luan van 9 Theo giáo trình phân tích hoạt động kinh doanh phần II của trƣờng Đại học Kinh tế Đà Nẵng của Trƣơng Bá Thanh và Trần Đ nh Khôi Nguyên (2009) thì hiệu quả đƣợc xem xét giữa mối quan hệ đầu ra là kết quả của doanh nghiệp (doanh thu, lợi nhuận, giá trị sản xuất, gia trị tăng thêm…) với đầu vào là các ngu n lực sử dụng (tài sản, vốn chủ sở hữu, ngu n nhân lực…). Nhƣ vậy, chỉ tiêu phân tích chung về hiệu quả có thể đƣợc tính toán nhƣ sau: 1.2 Đo lƣờng hiệu quả của một doanh nghiệp Hiện nay có rất nhiều tiêu chí đo lƣờng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, tiêu chí đƣợc các nhà nghiên cứu sử dụng nhiều nhất là tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA), tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE) để đo lƣờng hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp. Hai tiêu chí này đƣợc quan tâm nhiều vì nó phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh hay khả năng tạo ra lợi nhuận cho các bên liên quan của doanh nghiệp nhƣ nhà quản lý, chủ đầu tƣ, khách hàng, đối tác. Việc sử dụng các chỉ tiêu tỷ suất liên quan đến lợi nhuận để thực hiện phân tích, so sánh, thống kê sẽ cho ra kết quả có ý nghĩa hơn sử dụng chỉ tiêu lợi nhuận. Vì chỉ tiêu lợi nhuận là chỉ số tuyệt đối nên khi đƣợc dùng để so sánh hiệu quả hoạt động giữa các doanh nghiệp trong khoảng thời gian và không gian khác nhau là rất khập khiểng.
Điều này là hoàn toàn phù hợp với kết quả của P.