Chương 1 đã trình bày tổng quan về hiện trạng công tác quản lý hệ thống thoát nước, chống và kiểm soát ngập cũng như tình hình thực tế công tác quản lý, quy hoạch, đào tạo cán bộ tại Trung tâm Điều hành Chương trình chống ngập nước thành phố dẫn đến tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, mục tiêu và ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu. Chương 2 sẽ hệ thống cơ sở lý thuyết, đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu. Dựa trên cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu trước và nghiên cứu định tính, tôi sẽ đề xuất mô hình nghiên cứu và các giả thuyết ban đầu. Giới thiệu về Trung tâm Điều hành chương trình chống ngập nước thành phố 2.
Quá trình hình thành Bắt đầu từ năm 1991, Thành phố Hồ Chí Minh bắt đầu có sự quan tâm đến việc cải tạo, đầu tư xây dựng hệ thống thoát nước qua việc triển khai chương trình cải tạo và nạo vét tuyến kênh Nhiêu lộc – Thị nghè kết hợp giải tỏa hơn 6900 căn nhà ven kênh; xây dựng thêm được 21.379m cống có đường kính 350 – 2. Đến năm 1995 – 2000 hạ tầng cơ sở được đầu tư phát triển mạnh nhưng không đồng bộ và thiếu quy hoạch trong đó có cơ sở hạ tầng thoát nước, xử lý nước thải. Trong 5 năm, lượng nước thải sinh hoạt và công nghiệp tăng 1,5 lần, hệ thống thoát nước chưa hoàn chỉnh, ít được duy tu sửa chữa, vẫn trong tình trạng quá tải và gây ngập mỗi khi mưa lớn; một số quận mới thành lập, quá trình đô thị hóa tự phát và thiếu kiểm soát dẫn đến việc san lấp, lấn chiếm kênh rạch, xâm hại hệ thống thoát nước làm phát sinh nhiều điểm ngập mới. Đến năm 2001, Thủ tướng chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể hệ thống thoát nước thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 tại quyết định 752/QĐ-TTg ngày 19/6/2001.
Năm 2002 – 2007, thành phố đã đẩy mạnh đầu tư các dự án, công trình chống ngập và vệ sinh môi trường nước lưu vực Tàu hủ - Bến nghé – Kênh đôi – Kênh tẻ (giai đoạn 1), dự án nâng cấp đô thị lưu vực Tân hóa – Lò gốm. Khối lượng công việc nhiều, đa dạng nhưng thiếu một cơ quan chủ trì thống nhất quản lý chung dẫn đến nhiều chồng chéo, vướng mắc. Bên cạnh đó là hàng loạt điểm ngập mới phát sinh và 6 sự tác động của biến đổi khí hậu thể hiện rõ nét qua các diễn biến bất thường của các trận mưa lớn và triều cường gây ảnh hưởng lớn đến đời sống người dân của thành phố. Trước tình hình đó, đến tháng 3/2008, Trung tâm Điều hành chương trình chống ngập nước thành phố được thành lập theo Quyết định số 1121/QĐ-UBND ngày 14 tháng 3 năm 2008 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh với mục tiêu thống nhất quản lý chung trong lĩnh vực thoát nước, chống ngập, từng bước kiểm soát, giảm thiểu tình trạng ngập nước do mưa và do triều tại khu vực nội thành với việc kéo giảm điểm ngập từ 126 điểm (2008) xuống còn 58 điểm (năm 2010), và còn 9/58 điểm ngập (2015), tần suất và thời gian ngập cũng giảm đáng kể.
Tổ chức bộ máy Về biên chế: Hiện nay, tổng số cán bộ nhân viên hiện có 271 người, tổ chức thành 8 phòng chuyên môn và 4 Ban quản lý dự án trực thuộc: Về trụ sở làm việc: Trung tâm Chống ngập ở địa chỉ số 10 Trần Nhật Duật, phường Tân Định, Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh. Chức năng Trung tâm Điều hành Chương trình chống ngập nước thành phố Hồ Chí Minh (gọi tắt là Trung tâm Chống ngập) được thành lập theo Quyết định số 1121/QĐ- UBND ngày 14/03/2008 của Ủy ban nhân dân Thành phố, là cơ quan độc lập trực thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân thành phố thực hiện các chương trình, dự án thoát nước, chống ngập trên địa bàn thành phố. Nhiệm vụ Là cơ quan nghiên cứu, xây dựng chiến lược và các giải pháp kiểm soát lũ, triều trên địa bàn thành phố và các vùng phụ cận, xác định các dự án ưu tiên và phân kỳ thực hiện cho từng khu vực; điều phối các hoạt động, dự án tiêu thoát nước, để giải quyết căn bản tình trạng ngập nước trên địa bàn thành phố. Xây dựng kế hoạch dài hạn, trung hạn, hàng năm về thoát nước đô thị kể cả kế hoạch ưu tiên chống ngập và thoát nước trên địa bàn thành phố.
Tổ chức thu thập, đo đạc, khảo sát, thống kê, lưu trữ đầy đủ các dữ liệu, có phân tích, đánh giá dự liệu liên quan đến các điểm bị ngập và dự báo trước tình hình ngập nước trên địa bàn thành phố để tham mưu các biện pháp phòng, chống, khắc phục. Làm đầu mối trong việc nghiên cứu lập dự án quy hoạch tổng thể chương trình chống ngập, thoát nước trên địa bàn thành phố; thẩm tra các đồ án thiết kế có liên quan và chủ động phối hợp, đề xuất các biện pháp nhằm đảm bảo tính thống nhất trong việc quản lý và giải quyết các vấn đề chống ngập và thoát nước của thành phố Hồ Chí Minh. Làm chủ các dự án đầu tư về chương trình chống ngập nước, quyết định và đề xuất cơ chế nguồn vốn đầu tư tại thành phố; tổ chức, kiểm tra và theo dõi tiến độ thực hiện các dự án chống ngập và thoát nước đang thực hiện, từ đó đánh giá hiệu quả và đề xuất các giải pháp nhằm phát huy các hiệu quả tổng hợp trình Ủy ban nhân dân thành phố. Nghiên cứu, cập nhật, đề xuất cơ quan có thẩm quyền xem xét ban hành hoặc sửa đổi, nếu không còn phù hợp, bổ sung nếu thiếu đối với các quy chuẩn, tiêu chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật liên quan đến lĩnh vực thoát nước, xử lý nước thải; phương pháp xác định chỉ giới bảo vệ sông, kênh rạch, luồng lạch sông rạch, quy định kỹ thuật nạo vét làm cơ sở thống nhất trong thiết kế, kiểm tra, phối hợp các dự án thoát nước trên địa bàn thành phố.
8 Phối hợp liên ngành và liên lưu vực trong lĩnh vực thoát nước nói chung và quản lý, triển khai các dự án thoát nước nói riêng để thực hiện có hiệu quả chương trình chống ngập và thoát nước trên địa bàn thành phố. Nghiên cứu và ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ trong và ngoài nước về lĩnh vực thoát nước và công tác chống ngập; tổ chức các cuộc hội thảo khoa học về thoát nước, chống ngập nước đô thị. Thay mặt, giúp Ủy ban nhân dân thành phố làm chủ sở hữu, tổ chức quản lý toàn bộ hệ thống thoát nước, xử lý nước thải trên địa bàn thành phố. Giúp Ủy ban nhân dân thành phố theo dõi, tiếp nhận, đưa vào quản lý vận hành khai thác một số hạng mục công trình của các dự án cải thiện môi trường nước lưu vực kênh Tàu Hũ – Bến Nghé – kênh Đôi – Kênh Tẻ (giai đoạn 1) và Dự án Vệ sinh môi trường thành phố (lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè).
Các khái niệm nghiên cứu liên quan 2. Khái niệm về lãnh đạo (Leadership) Tuy nghiên cứu về lãnh đạo chỉ mới bắt đầu vào đầu thế kỷ 20 nhưng có rất nhiều định nghĩa khác nhau về lãnh đạo: Theo Hemphill và Coons (1957), lãnh đạo là cư xử của một cá nhân khi anh ta chỉ đạo các hoạt động của nhóm để đạt tới những mục tiêu chung. Theo Janda (1960), lãnh đạo là dạng đặc biệt của quan hệ được đặc trưng bởi nhận thức của các thành viên nhóm rằng: một thành viên khác của nhóm có quyền đòi hỏi những dạng hành vi đối với các thành viên khác trong hoạt động của họ như là một thành viên nhóm. Tannenbaum, Weschler và Masarik (1961) cho rằng lãnh đạo là ảnh hưởng (tác động) mang tính tương tác, được thực hiện trong một tình huống, được chỉ đạo thông qua quá trình thông tin để đạt tới những mục tiêu cụ thể.
Theo Jacobs (1970), lãnh đạo là sự tương tác giữa những con người trong đó một người trình bày những thông tin để những người khác trở nên bị thuyết phục với những kết cục của anh ta.và kết cục này sẽ được hoàn thiện khi đối tượng cư xử theo những điều được đề nghị hoặc được đòi hỏi. 9 Theo Rauch và Behling (1984), lãnh đạo là quá trình ảnh hưởng tới những hoạt động của nhóm có tổ chức để đạt tới mục tiêu. Schein (1995) cho rằng lãnh đạo là khả năng bứt phá khỏi văn hóa…nhằm thực hiện một quá trình thay đổi tiến hóa mang tính thích ứng cao. Theo House và các cộng sự (1999), lãnh đạo là khả năng của một cá nhân nhằm gây ảnh hưởng, thúc đẩy, làm cho mọi người góp phần vào hiệu quả và thành công của tổ chức họ đang làm thành viên.
Theo Yukl (2002), lãnh đạo là quá trình gây ảnh hưởng đến người khác để họ hiểu và đồng ý về những công việc cần thực hiện và thực hiện nó như thế nào một cách hiệu quả…quá trình tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân và tập thể nỗ lực đạt được mục tiêu của tổ chức đề ra. Tóm lại có nhiều khái niệm khác nhau về lãnh đạo. Trong các định nghĩa trên đều cho thấy điểm chung về lãnh đạo là quá trình ảnh hưởng, tác động (bằng cách tạo điều kiện, môi trường, truyền cảm hứng) đến con người để tìm kiếm sự tham gia tự nguyện của họ nhằm đạt mục tiêu, nhiệm vụ, sứ mạng của nhóm, của tổ chức. Phong cách lãnh đạo chuyển dạng (Transformational Leader) Từ khi được giới thiệu lần đầu bởi Burns (1978) và mở rộng bởi Bass (1985), thuyết phong cách lãnh đạo chuyển dạng được Burns (1978) cho rằng người lãnh đạo chuyển đổi các giá trị, hành vi và mục tiêu của cấp dưới thành của nhóm và tổ chức thông qua sự nhiệt tình, khuyến khích và truyền cảm hứng, là khả năng tạo ảnh hưởng đối với nhân viên để vượt qua các tâm lý lo ngại cá nhân và chuyển hóa chúng thành thành tích của tập thể.
Quá trình chuyển đổi này thúc đẩy nhân viên theo đuổi một tầm nhìn được thiết lập bởi các nhà lãnh đạo. Lãnh đạo có phong cách chuyển dạng thường gắn liền với uy tín, khơi nguồn cảm hứng và kích thích trí tuệ. Các nhà lãnh đạo có phong cách chuyển dạng thường áp dụng mô hình hành động khá phù hợp để đạt được mục tiêu của họ. Tác giả về các phong cách lãnh đạo Gary Yuki tóm tắt các bước như sau: - Cùng với nhân viên, phát triển một tầm nhìn đầy thách thức và hấp dẫn.
- Kết nối tầm nhìn và chiến lược với các thành tích.