Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Sự gia tăng chất thải hữu cơ từ các hoạt động chăn nuôi, chế biến nông sản và sinh hoạt đô thị đang đặt ra áp lực lớn đối với công tác bảo vệ môi trường và phát triển nông nghiệp bền vững. Trong bối cảnh đó, ruồi Lính đen (Hermetia illucens Linnaeus, thuộc bộ Diptera, họ Stratiomyidae) được công nhận là loài côn trùng có khả năng phân hủy nhanh nhiều loại chất nền hữu cơ như phân gia súc, phụ phẩm nông nghiệp, tàn dư cây trồng và rác thải thực phẩm. Giai đoạn sâu non của ruồi Lính đen không chỉ chuyển hóa chất thải thành nguồn sinh khối giàu protein và chất béo phục vụ chăn nuôi, mà phần phân thải còn sót lại sau quá trình nuôi dưỡng còn chứa hàm lượng hữu cơ và khoáng chất dồi dào, phù hợp định hướng sản xuất phân bón hữu cơ.
Tuy nhiên, việc sử dụng trực tiếp phân thải nuôi sâu non ruồi Lính đen đòi hỏi những đánh giá thực nghiệm khoa học về liều lượng và mức độ an toàn sinh học đối với từng nhóm cây trồng. Việc thiếu các dữ liệu định lượng cụ thể về tác động của loại phân bón này đến các giai đoạn sinh trưởng, năng suất và độc tính thực vật có thể dẫn đến việc sử dụng sai nồng độ, gây ức chế hoặc gây hại cho cây. Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả Nguyễn Văn Hoà đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp nhằm đánh giá hiệu quả nông học của nguồn phụ phẩm này.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm hai nhiệm vụ:
- Đánh giá sự ảnh hưởng của phân thải nuôi sâu non ruồi Lính đen đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây cà chua (Lycopersicon esculentum Mill).
- Đánh giá sự ảnh hưởng của phân thải nuôi sâu non ruồi Lính đen đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của rau xà lách (Lactuca sativa L.).
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phân thải nuôi sâu non ruồi Lính đen (đã được ủ và làm khô), cây cà chua lai F1 giống Savior và rau xà lách. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện tại Phòng thí nghiệm Bộ môn Công nghệ sinh học Động vật và khu nhà lưới thuộc Khoa Công nghệ sinh học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam trong niên vụ 2022 - 2023 (thí nghiệm cà chua được gieo hạt ngày 06/09/2022, trồng ngày 26/09/2022 và theo dõi đến khi kết thúc thu hoạch; các thí nghiệm trên rau xà lách được theo dõi theo chu kỳ 14 ngày đối với nảy mầm và 35 ngày đối với phát triển rễ, chiều cao).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng trên nền tảng lý luận về chu trình phân giải hữu cơ của côn trùng hoại sinh và sinh lý dinh dưỡng khoáng của thực vật. Về mặt côn trùng học, ruồi Lính đen trải qua vòng đời 40 - 45 ngày gồm 4 giai đoạn: trứng, sâu non, nhộng và ruồi trưởng thành. Sâu non là giai đoạn tích lũy dinh dưỡng chủ yếu, có hệ vi sinh đường ruột phân giải mạnh chất hữu cơ, tạo ra phân thải giàu nitơ, photpho, kali, axit humic, axit fulvic và các chất hữu cơ thứ cấp. Về sinh lý thực vật, nghiên cứu dựa trên quy luật tương tác giữa hàm lượng khoáng chất, độc tính amoniac và sự phát triển hình thái của cây ăn quả (cà chua họ Cà - Solanaceae) và rau ăn lá ngắn ngày (xà lách họ Cúc - Asteraceae).
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được thiết kế theo các tiêu chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt:
- Đối với cây cà chua: Thí nghiệm bố trí trong xô (thể tích chứa 10 kg giá thể đất phù sa phối trộn) theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn gồm 6 công thức bón phân, lặp lại 3 lần, mỗi công thức 15 xô:
- NT1: Phân bón NPK tổng hợp Đầu trâu (20:20:15 + TE), mức bón 26,7 g/xô (tương đương 750 kg/ha).
- NT2: Phân bón hữu cơ vi sinh Quế Lâm 01, mức bón 89,3 g/xô (tương đương 2.500 kg/ha).
- NT3: 5% phân sâu non ruồi Lính đen + 95% đất phù sa.
- NT4: 10% phân sâu non ruồi Lính đen + 90% đất phù sa.
- NT5: 15% phân sâu non ruồi Lính đen + 85% đất phù sa.
- NT6: 20% phân sâu non ruồi Lính đen + 80% đất phù sa.
- Đối với rau xà lách:
- Thí nghiệm đánh giá sự nảy mầm: Áp dụng tiêu chuẩn quốc tế ISO 17126:2005. Bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 5 nghiệm thức (ĐC: 100% đất; NT1: 5%; NT2: 10%; NT3: 15%; NT4: 20% phân thải ruồi Lính đen), lặp lại 5 lần, mỗi chậu gieo 40 hạt, theo dõi liên tục trong 14 ngày.
- Thí nghiệm đánh giá mức độ ức chế rễ và chiều cao cây: Áp dụng tiêu chuẩn quốc tế ISO 11269-1:2012. Bố trí 5 nghiệm thức tương tự, lặp lại 10 lần, mỗi chậu gieo 1 hạt, tưới ẩm 60% dung tích hấp thu của đất, theo dõi trong 35 ngày.
- Phương pháp xử lý dữ liệu: Xác định nồng độ ức chế 50% sự nảy mầm (EC50) tại thời điểm 14 ngày bằng phương pháp Probit. Số liệu được tổng hợp trên phần mềm Excel và phân tích phương sai (ANOVA một yếu tố), kiểm định sai khác trung bình bằng phép thử Tukey (p < 0,05) trên phần mềm thống kê Minitab.
- Nguồn dữ liệu: Số liệu thực nghiệm đo đạc định kỳ về các chỉ tiêu sinh trưởng (chiều cao, ngày ra hoa, ngày thu quả, chiều dài rễ, khối lượng rễ), cấu thành năng suất (số quả, khối lượng quả, năng suất cá thể) và các chỉ tiêu phân tích hóa nghiệm (độ Brix, vitamin C, hàm lượng NO3) do Phòng thử nghiệm thuộc Viện nghiên cứu Công nghệ hỗ trợ Nông nghiệp thực hiện.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày tổng quan về thực trạng rác thải hữu cơ và tiềm năng sinh học của ruồi Lính đen trong việc xử lý ô nhiễm môi trường. Phân tích rõ các thành phần hữu cơ, khoáng đa lượng (N, P, K) và các axit hữu cơ có lợi trong phân thải của sâu non ruồi Lính đen (RLĐ). Từ đó, tác giả xác định tính cấp thiết của đề tài và đề ra hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể trên cây cà chua Savior và rau xà lách nhằm tạo cơ sở khoa học cho việc ứng dụng phân thải RLĐ trong canh tác hữu cơ.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Chương này tổng hợp các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến các khía cạnh:
- Phân loại học, đặc điểm hình thái và vòng đời của ruồi Lính đen (Hermetia illucens), nguồn gốc từ vùng nhiệt đới châu Mỹ và sự phân bố toàn cầu. Dẫn liệu thành phần phân thải RLĐ theo Lâm Văn Hà và cs. (2020) cho thấy phân chứa chất hữu cơ tổng số 71,2% - 75,5%; đạm tổng số 2,01% - 2,39%; P2O5 2,57%; K2O 1,52% - 1,59%; axit humic 3,46%; axit fulvic 3,0%; mật độ vi sinh vật Bacillus subtilis đạt 2,7 × 10^9 cfu/g, hoàn toàn không phát hiện Salmonella, E. coli hay kim loại nặng độc hại (Pb, Cd, As, Hg).
- Ứng dụng của sâu non ruồi Lính đen làm thức ăn chăn nuôi gia cầm (gà thịt, gà đẻ, chim cút), nuôi trồng thủy sản (cá hồi vân, cá rô phi, cá chép) và tiềm năng phân bón hữu cơ.
- Cơ sở sinh học cây cà chua (Lycopersicon esculentum) và rau xà lách (Lactuca sativa): nguồn gốc, phân loại thực vật học, tình hình sản xuất, yêu cầu sinh thái về nhiệt độ, ánh sáng, ẩm độ, dinh dưỡng và các quy trình bón phân hiện hành.
Phần 3: Vật liệu, nội dung và phương pháp
Trình bày chi tiết đặc tính nguồn vật liệu và quy trình thực nghiệm:
- Phân sâu non ruồi Lính đen đã ủ và làm khô đạt độ ẩm 25% có các thông số: pH = 7,9; Nitơ tổng số (N) = 3,53%; Photpho (P2O5) = 2,35%; Kali (K2O) = 4,32%; hàm lượng chất hữu cơ (OM) = 89,3%.
- Quy chuẩn bố trí các thí nghiệm: Khối lượng phân bón và đất trong từng nghiệm thức được cân định lượng cụ thể (chậu xà lách chứa 2,0 kg hỗn hợp; xô cà chua chứa 10,0 kg).
- Chi tiết phương pháp bón lót và bón thúc ở các mốc 20, 40, 60 ngày sau trồng đối với nghiệm thức NPK và phân Quế Lâm 01.
- Quy trình chuẩn bị thí nghiệm nảy mầm theo ISO 17126:2005 và thí nghiệm ức chế rễ theo ISO 11269-1:2012; các tiêu chí đánh giá năng suất và chất lượng quả cà chua.
Phần 4: Kết quả và thảo luận
Chương này tập trung phân tích các dữ liệu thực nghiệm thu được từ hai mô hình thí nghiệm:
-
Ảnh hưởng của phân thải sâu non ruồi Lính đen đến cây cà chua:
- Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng: NT3 (5% phân RLĐ) có thời gian từ trồng đến ra hoa ngắn nhất (25 ngày), tiếp đến là NT4 (28 ngày), NT5 (29 ngày), NT2 và NT6 (30 ngày), dài nhất là NT1 bón NPK (33 ngày). Thời gian từ trồng đến thu quả lần đầu ngắn nhất ở NT3 và NT4 (62 ngày), dài nhất ở NT1 (72 ngày). Thời gian kết thúc thu hoạch 5 chùm quả dao động từ 119 ngày (NT3) đến 129 ngày (NT1).
- Phát triển của bộ rễ: Chiều dài rễ dao động từ 30,6 cm (NT6) đến 35,2 cm (NT1), tuy nhiên khác biệt này không có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa LSD0,05 = 4,8 cm. Ngược lại, khối lượng rễ đạt cao nhất ở NT6 (155,3 g) và NT2 (153,5 g), sai khác có ý nghĩa thống kê so với NT1 (138,6 g), NT3 (131,5 g) và NT4 (138,8 g) với LSD0,05 = 11,2 g.
- Năng suất và các yếu tố cấu thành: Số quả trung bình trên cây cao nhất ở NT6 (26,9 quả), NT1 (26,6 quả) và NT2 (26,3 quả). Khối lượng trung bình quả đạt từ 84,3 g (NT3) đến 87,6 g (NT2), trong đó NT6 đạt 87,3 g. Về năng suất cá thể, NT6 đạt cao nhất với 2,35 kg/cây (tương đương 65,80 tấn/ha), kế đến là NT2 đạt 2,30 kg/cây (64,40 tấn/ha) và NT1 đạt 2,28 kg/cây (63,84 tấn/ha). Các nghiệm thức NT1, NT2, NT5 và NT6 cho năng suất cá thể tương đương nhau về mặt thống kê (LSD0,05 = 0,24 kg), cao hơn đáng kể so với NT3 (1,79 kg/cây) và NT4 (1,91 kg/cây).
- Chất lượng quả: Hàm lượng vitamin C cao nhất ở NT2 (14,35 mg/100g) và NT6 (14,33 mg/100g), thấp nhất ở NT1 (11,08 mg/100g). Độ Brix đạt cao nhất ở NT6 (6,32%) và NT2 (6,15%), thấp nhất ở NT1 (5,42%). Phân tích dư lượng nitrat (NO3) cho thấy các công thức phân bón hữu cơ và phân RLĐ (NT2 đến NT6) hoàn toàn không phát hiện nitrat, trong khi NT1 sử dụng phân hóa học NPK tồn dư 65,5 mg/kg.
-
Ảnh hưởng của phân thải sâu non ruồi Lính đen đến rau xà lách:
- Tỷ lệ nảy mầm (sau 14 ngày): Tỷ lệ nảy mầm đạt cao ở ĐC (93,0%) và NT1 bón 5% phân RLĐ (92,0%). Khi tăng nồng độ phân bón lên 10% (NT2), tỷ lệ nảy mầm giảm xuống 71,5%; tại NT3 (15%) đạt 40,5% và NT4 (20%) chỉ đạt 34,5%. Ở ngày thứ 3, NT1 kích thích nảy mầm đạt 84,0%, vượt nghiệm thức ĐC (77,5%).
- Nồng độ ức chế EC50: Qua phân tích Probit trên Minitab, giá trị nồng độ ức chế 50% sự nảy mầm của hạt xà lách (EC50) được xác định là 13,48%.
- Tỷ lệ sống và sinh trưởng sau 35 ngày: Ở ĐC và NT1, tỷ lệ sống đạt 100% xuyên suốt 35 ngày. Tại NT2, cây sống 100% đến ngày 19, sau đó chết dần và duy trì 50% từ ngày 23 đến ngày 35. Ở NT3 và NT4, cây xuất hiện hiện tượng ngộ độc, héo úa và chết hoàn toàn tương ứng vào ngày thứ 20 và ngày thứ 15.
- Chiều cao cây và bộ rễ sau 35 ngày: Chiều cao cây ở NT1 phát triển vượt trội đạt 8,19 cm (chiều dài rễ đạt 5,38 cm). NT2 đạt chiều cao 6,22 cm ở các cá thể sống sót. Nghiệm thức đối chứng ĐC cây chỉ cao 4,04 cm, biểu hiện vàng lá còi cọc do thiếu dinh dưỡng.
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Tổng kết toàn bộ các phát hiện nghiên cứu, khẳng định tiềm năng ứng dụng phân thải sâu non RLĐ ở tỷ lệ thích hợp cho từng nhóm cây trồng. Đề xuất kiến nghị mở rộng thử nghiệm trên nhiều loại rau màu khác và tiếp tục đánh giá tác động nông học ở quy mô đồng ruộng ngoài sản xuất đại trà.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đã cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm đầy đủ về phản ứng nông học của cây cà chua và rau xà lách đối với phân thải sâu non ruồi Lính đen so với phân bón vô cơ và hữu cơ vi sinh thương phẩm.
Bảng 1: Tổng hợp các chỉ tiêu sinh trưởng, năng suất và chất lượng quả cà chua Savior
| Nghiệm thức |
Tỷ lệ phân RLĐ / Loại phân |
Ngày ra hoa |
Thu quả lần đầu (ngày) |
Khối lượng rễ (g) |
Số quả / cây (quả) |
Khối lượng quả (g) |
Năng suất cá thể (kg) |
Năng suất thực thu (tấn/ha) |
Vitamin C (mg/100g) |
Độ Brix (%) |
Hàm lượng NO3 (mg/kg) |
| NT1 |
Phân NPK Đầu trâu |
33 |
72 |
138,6 |
26,6 |
85,9 |
2,28 |
63,84 |
11,08 |
5,42 |
65,5 |
| NT2 |
Phân vi sinh Quế Lâm 01 |
30 |
66 |
153,5 |
26,3 |
87,6 |
2,30 |
64,40 |
14,35 |
6,15 |
Không phát hiện |
| NT3 |
5% phân sâu non RLĐ |
25 |
62 |
131,5 |
21,3 |
84,3 |
1,79 |
50,12 |
12,75 |
5,76 |
Không phát hiện |
| NT4 |
10% phân sâu non RLĐ |
28 |
62 |
138,8 |
22,6 |
84,5 |
1,91 |
53,48 |
13,01 |
5,85 |
Không phát hiện |
| NT5 |
15% phân sâu non RLĐ |
29 |
64 |
142,6 |
24,9 |
86,5 |
2,13 |
59,58 |
13,65 |
6,08 |
Không phát hiện |
| NT6 |
20% phân sâu non RLĐ |
30 |
66 |
155,3 |
26,9 |
87,3 |
2,35 |
65,80 |
14,33 |
6,32 |
Không phát hiện |
Bảng 2: Tác động của phân thải sâu non ruồi Lính đen đến rau xà lách
| Nghiệm thức |
Tỷ lệ phân RLĐ bổ sung (%) |
Tỷ lệ nảy mầm 14 NSG (%) |
Tỷ lệ sống 35 NSG (%) |
Chiều cao cây 35 NSG (cm) |
Tình trạng cây ở 35 NSG |
| ĐC |
0% (Đất thuần) |
93,0 |
100 |
4,04 |
Cây còi cọc, vàng lá do thiếu dinh dưỡng |
| NT1 |
5% phân RLĐ |
92,0 |
100 |
8,19 |
Sinh trưởng tối ưu, rễ dài 5,38 cm |
| NT2 |
10% phân RLĐ |
71,5 |
50 |
6,22 |
Bắt đầu bị ức chế, cây chết một nửa sau 20 NSG |
| NT3 |
15% phân RLĐ |
40,5 |
0 |
- |
Cây con héo úa, chết hoàn toàn sau 20 NSG |
| NT4 |
20% phân RLĐ |
34,5 |
0 |
- |
Ngộ độc nặng, cây chết hoàn toàn sau 15 NSG |
Đóng góp của khóa luận thể hiện ở các điểm sau:
- Chứng minh phân thải sâu non RLĐ ở mức 15% - 20% hoàn toàn có thể thay thế phân bón hữu cơ vi sinh Quế Lâm 01 và phân NPK trong việc nâng cao khối lượng rễ, số lượng quả, năng suất cá thể (đạt 2,13 - 2,35 kg/cây) cũng như phẩm chất quả cà chua (độ Brix trên 6,0%, vitamin C đạt 13,65 - 14,33 mg/100g, không tồn dư nitrat).
- Xác định ngưỡng chịu đựng sinh học và độc tính thực vật của phân thải RLĐ đối với rau xà lách: tỷ lệ 5% là ngưỡng tối ưu kích thích nảy mầm và sinh trưởng; nồng độ từ 10% trở lên bắt đầu gây hại và giá trị ức chế EC50 đối với nảy mầm là 13,48%.
- Đưa ra khuyến cáo thực tiễn: Phân thải sâu non RLĐ có tác động rất khác nhau tùy thuộc vào loài cây trồng; không được áp dụng cùng một công thức phối trộn cho cây ăn quả dài ngày và rau ăn lá ngắn ngày.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có các hạn chế được ghi nhận dựa trên điều kiện và phạm vi nghiên cứu:
- Thí nghiệm cà chua mới chỉ thực hiện trên giống sinh trưởng vô hạn Savior và dừng lại ở việc đánh giá 5 chùm quả đầu tiên trồng trong xô thể tích cố định, chưa đánh giá hết toàn bộ chu kỳ sinh trưởng vô hạn của cây.
- Các thí nghiệm được tiến hành trong điều kiện phòng thí nghiệm và nhà lưới có kiểm soát nhiệt độ, làm mát và chắn côn trùng, chưa phản ánh đầy đủ tác động tương tác của các yếu tố ngoại cảnh khắc nghiệt khi canh tác ngoài đồng ruộng mở.
- Khóa luận chưa phân tích chi tiết biến động của các quần thể vi sinh vật đất và nồng độ các dạng muối khoáng hòa tan hoặc nồng độ khí amoniac tự do phát sinh trong giá thể phối trộn nồng độ cao (15% - 20%) đối với cây rau xà lách.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng khảo sát ảnh hưởng của phân thải sâu non ruồi Lính đen trên các loại cây trồng nông nghiệp khác (cây lương thực, cây ăn quả lâu năm, các giống rau củ khác).
- Nghiên cứu dải nồng độ phối trộn chi tiết hơn trong khoảng 5% đến 10% đối với rau ăn lá nhằm tìm ra điểm cân bằng tối đa hóa năng suất mà không gây độc tế bào.
- Đánh giá ảnh hưởng dài hạn của việc bón phân thải RLĐ đến đặc tính lý, hóa và hệ vi sinh vật của đất qua nhiều vụ canh tác liên tiếp ngoài đồng ruộng.
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Công nghệ sinh học nông nghiệp, Nông học, Khoa học cây trồng và Quản lý môi trường.
- Các đơn vị, doanh nghiệp và trang trại đang phát triển mô hình chăn nuôi ruồi Lính đen xử lý chất thải hữu cơ, cần cơ sở khoa học để đăng ký, sản xuất và thương mại hóa sản phẩm phân bón hữu cơ.
- Phần đáng tham khảo nhất trong khóa luận là:
- Quy trình và phương pháp bố trí thí nghiệm độc tính thực vật theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 17126:2005 và ISO 11269-1:2012.
- Các bảng dữ liệu đối chứng chi tiết về thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng, năng suất cá thể và các chỉ tiêu hóa sinh chất lượng quả (vitamin C, Brix, NO3) giữa phân thải RLĐ, phân hữu cơ vi sinh và phân bón vô cơ NPK.
Câu hỏi thường gặp
1. Phân thải sâu non ruồi Lính đen sử dụng trong nghiên cứu này có thành phần dinh dưỡng và tính chất như thế nào?
Theo kết quả phân tích trong khóa luận, phân sâu non ruồi Lính đen sau khi ủ và làm khô đến độ ẩm 25% có độ pH là 7,9; hàm lượng chất hữu cơ (OM) đạt 89,3%; nitơ tổng số (N) đạt 3,53%; photpho tổng số (P2O5) đạt 2,35% và kali tổng số (K2O) đạt 4,32%.
2. Bón phân sâu non ruồi Lính đen ảnh hưởng như thế nào đến năng suất và chất lượng quả cà chua so với phân NPK và phân Quế Lâm 01?
Bón phân sâu non ruồi Lính đen ở tỷ lệ 15% - 20% (NT5 và NT6) cho năng suất cá thể cà chua đạt từ 2,13 đến 2,35 kg/cây (tương đương 59,58 - 65,80 tấn/ha), tương đương với bón phân hữu cơ vi sinh Quế Lâm 01 (2,30 kg/cây) và phân NPK Đầu trâu (2,28 kg/cây). Về chất lượng, bón phân RLĐ ở mức 20% giúp tăng hàm lượng vitamin C lên 14,33 mg/100g và độ Brix lên 6,32% (cao hơn rõ rệt so với bón NPK chỉ đạt 11,08 mg/100g vitamin C và 5,42% độ Brix), đồng thời không phát hiện dư lượng nitrat trong quả (trong khi mẫu bón NPK có dư lượng 65,5 mg/kg).
3. Tại sao ở các tỷ lệ 15% và 20% phân ruồi Lính đen, rau xà lách lại bị chết hoàn toàn sau 15 - 20 ngày?
Hạt và cây con rau xà lách rất mẫn cảm với nồng độ chất hữu cơ và muối khoáng cao. Khi phối trộn phân thải sâu non RLĐ ở tỷ lệ 15% và 20%, đất bị nhiễm độc dinh dưỡng và giải phóng lượng amoniac tự do lớn trong quá trình phân hủy hữu cơ, kết hợp với sự gia tăng đột biến của hoạt động vi sinh vật gây thối rễ, thối đọt, khiến cây con bị gãy đọt, héo rũ và chết hoàn toàn ở ngày thứ 15 (NT4) và ngày thứ 20 (NT3).
4. Nồng độ ức chế 50% sự nảy mầm (EC50) của phân ruồi Lính đen đối với hạt xà lách là bao nhiêu và được tính bằng cách nào?
Nồng độ ức chế 50% sự nảy mầm (EC50) đối với hạt xà lách thí nghiệm sau 14 ngày theo dõi được xác định là 13,48%. Chỉ số này được tính toán dựa trên số lượng hạt nảy mầm tương đối giữa các nghiệm thức có phân và nghiệm thức đối chứng đất thuần bằng phương pháp phân tích Probit trên phần mềm thống kê Minitab.
5. Nghiên cứu khuyến nghị tỷ lệ phối trộn phân sâu non ruồi Lính đen như thế nào cho từng loại cây trồng?
Kết quả thực nghiệm chỉ ra rằng đối với cây cà chua (cây ăn quả dài ngày, nhu cầu dinh dưỡng cao), tỷ lệ phối trộn thích hợp nhất là 15% - 20% phân sâu non RLĐ với đất phù sa. Đối với rau xà lách (cây ăn lá ngắn ngày, rễ nông, mẫn cảm), mức bón thích hợp nhất là 5%; không được bón quá 10% vì sẽ làm giảm tỷ lệ nảy mầm, giảm tỷ lệ sống và gây hại nghiêm trọng cho cây.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Văn Hoà đã chứng minh tính khả thi và hiệu quả nông học cao của phân thải nuôi sâu non ruồi Lính đen khi sử dụng làm nguồn phân bón hữu cơ trong sản xuất nông nghiệp. Nghiên cứu đã xác lập các dẫn liệu thực nghiệm chính xác về ngưỡng sử dụng tối ưu: tỷ lệ phối trộn 15% - 20% giúp cây cà chua sinh trưởng tốt, cho năng suất và chất lượng quả tương đương hoặc cao hơn phân bón hóa học và phân vi sinh thương phẩm, trong khi mức 5% là ngưỡng giới hạn thích hợp nhất đối với sự phát triển của rau xà lách. Các kết quả này cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho việc tận dụng phụ phẩm côn trùng, góp phần phát triển giải pháp kinh tế tuần hoàn và canh tác hữu cơ bền vững.