Đặt vấn đề Ruồi Lính đen (RLĐ), tên khoa học là Hermetia illucens (Linnaeus, 1758) (Diptera, Stratiomyidae) thuộc giống Hermetia, trong giống Hermetia còn có một số loài khác như Hermetia inflata, Hermetia flavimaculata, Hermetia transmaculata và Hermetia coarctata. Ruồi Lính đen (RLĐ) là ruồi có kích thước lớn, sâu non cộng sinh với những loài có khả năng phân hủy rất hiệu quả đối với một loạt các chất hữu cơ đang thối rữa, đặc biệt bao gồm phân, chất thải thực phẩm, các sản phẩm phụ nông nghiệp, nước rỉ hữu cơ và xác động thực vật (Tomberlin & Van Huis, 2020). Sâu non ruồi Lính đen có thể được nuôi trên hầu hết các chất hữu cơ và có thể được sử dụng làm nguồn thức ăn gia súc và việc ứng dụng RLĐ trong nông nghiệp và xử lý chất thải sinh hoạt ngày càng được quan tâm trên thế giới và ở Việt Nam (Spranghers và cs., 2017, Biasato và cs., 2019, Heuel và cs. Giai đoạn sâu non của ruồi có thể ăn đa dạng thức ăn từ rác thải nông nghiệp, thải sinh hoạt, tàn dư cây trồng, phân động vật… Sự đa dạng của chất nền mà chúng có thể xử lý và hiệu quả mà chúng có thể xử lý được báo cáo là cao nhất trong số các loài ruồi (Klonick & Alexander, 2017).
Từ những thập niên cuối của thế kỷ trước, sâu non ruồi Lính đen đã được sử dụng trong các trang trại nông nghiệp nhằm xử lý chất thải như phân gia súc gia cầm (Sheppard và cs. Trong đó, sâu non ruồi Lính đen đóng một vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu chất thải hữu cơ. Sâu non ruồi Lính đen có khả năng chuyển các chất hữu cơ có giá trị thấp thành nguồn protein có giá trị và có thể thay thế bột cá và khô đậu nành làm thức ăn trong chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản (Lê Đức Ngoan và cs. Sâu non ruồi Lính là được coi là phàm ăn, chúng có thể tiêu thụ hầu hết các loại chất hữu cơ từ chất thải chăn nuôi, chất thải nông nghiệp hay chất thải từ việc chế biến (Gold và cs.
Do đó chúng được xem như một nhà máy sinh học không chỉ chế biến chất thải hữu cơ thành nguyên liệu phục vụ chăn nuôi thủy, hải sản, gia súc, gia cầm hay nhiên liệu sinh học, phục vụ đời sống con người mà còn là tác nhân làm giảm ô nhiễm môi trường (Kim và cs. Cũng chính vì những lợi ích mà chúng mang lại 1 cho con người mà loài RLĐ đã được sử dụng như một loài động vật trong chăn nuôi ở một số nước trên thế giới. Trong những năm gần đây đã có nhiều nghiên cứu chứng minh phân thải của sâu non ruồi Lính đen cỏ đủ thành phần dinh dưỡng và đạt tiêu chuẩn để phục vụ canh tác hữu cơ. Khi nói tới phân thải của sâu non ruồi Lính đen thì đó là tên gọi để chỉ phân của sâu non ruồi Lính đen đào thải ra khỏi cơ thể của chúng sau khi phân giải thức ăn, chứ không phải là phân của RLĐ trưởng thành.
Phân của sâu non ruồi sau khi thu sẽ được ủ, sau đó làm khô và được sử dụng làm phân cho cây trồng. Phân bón làm từ phân thải nuôi sâu non ruồi lính đen rất tốt cho cây trồng. Theo các nghiên cứu thì trong thành phần phân thải nuôi sâu non ruồi Lính đen có chứa khoảng 2,01% Nitơ tổng số; 2,57% P2O5 tổng số; 1,52% K2O tổng số; 75,5% hàm lượng hữu cơ, ngoài ra chúng còn chứa axit humic, axit fulvic và các nguyên tố vi, đa lượng khác…. (Lâm Văn Hà và cs., 2020) vì vậy mà phân thải nuôi sâu non ruồi Lính đen có thể cung cấp rất nhiều khoáng chất cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng.
Sẽ không có bất cứ nguy hiểm hay tình trạng nóng cháy cây khi bón phân thải nuôi sâu non ruồi Lính đen. Để minh chứng cho hiệu quả của phân sâu non ruồi Lính đen, phục vụ cho sản xuất nông nghiệp hữu cơ chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu “Ảnh hưởng của phân thải nuôi sâu non ruồi Lính đen đến sinh trưởng, phát triển của cây cà chua và rau xà lách”. Mục đích - Thông qua các thí nghiệm đã được thiết kế để đánh giá được sự ảnh hưởng của của phân thải nuôi sâu non ruồi Lính đen đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của cà chua. - Thông qua các thí nghiệm đã được thiết kế để đánh giá được sự ảnh hưởng của của phân thải nuôi sâu non ruồi Lính đen đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của rau xà lách.
2 PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Giới thiệu về ruồi Lính đen 2. Nguồn gốc Ruồi Lính đen (RLĐ) thuộc họ Stratiomyidae, chúng có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới và ôn đới ấm áp của các lục địa Mỹ (Newton và cs. Do tác động của tự nhiên và các hoạt động của con người đã làm cho RLĐ có điều kiện lan rộng đến các châu lục khác như châu Âu, châu Á và Úc (Olivier, 2009).
Do đó, gần 80% diện tích thế giới giữa vĩ độ 46°N và 42°S đều phát hiện thấy sự hiện diện của RLĐ (Martínez-Sánchez và cs. Vị trí phân loại và đặc điểm hình thái, tập tính Ruồi Lính đen thuộc lớp côn trùng: Insecta Bộ Hai cánh: Diptera Họ ruồi hoại sinh: Stratiomyidae Tên khoa học: Hermetia illucens Linnaeus Tên gọi khác (Synonymy): Musca illucens Linnaeus (1758) Musca leucopa Linnaeus (1767) Hermetia rufiventris Fabricius (1805) Hermetia pellucens Macquart (1834) Hermetia nigrifacies Bigot (1879) Hermetia mucens Riley & Howard (1889) Hermetia illucens var. nigritibia Enderlein (1914) Hermetia illucens Copello (1926) Phân bố. Ruồi Lính đen mặc dù có nguồn gốc ở vùng Savan phía Nam châu Mỹ la tinh nhưng đến nay loài được ghi nhận ở hầu hết các lục địa trên thế giới chỉ trừ có Nam cực.
Ở vùng nhiệt đới và những nơi có khí hậu ấm áp của phía Tây bán cầu, là sinh vật đặc hữu của vùng. Còn ở phía Đông bán cầu, sự phân bố của loài liên quan đến hoạt động trao đổi hàng hóa của con người (May, 1961). Đặc điểm hình thái của ruồi Lính đen Ruồi Lính đen trưởng thành Ruồi Lính đen trưởng thành có tuổi thọ 5 – 12 ngày, trong thời gian này chúng 3 giao phối và đẻ trứng (Diclaro II & Kaufman, 2009). Mỗi con sinh sản từ 500 – 1.200 trứng tùy thuộc vào chế độ ăn uống và nuôi dưỡng.
Chúng có ngoại hình giống với ong bắp cày nhưng không cắn, chích (Lưu Thị Thùy Linh và Nguyễn Thị Nhiên, 2022). Vì vậy nó không phải tác nhân gây bệnh trên người và động vật, ruồi đực trưởng thành thường nhỏ hơn ruồi cái có đầu bụng màu đồng bạc thay vì màu đỏ như con cái (Trần Tấn Việt và cs.1: Ruồi Lính đen (H. Illucens) Trứng ruồi Lính đen Trứng rất nhỏ, khi được đẻ ra trứng ấp 3 – 4 ngày nở thành sâu non (Diclaro II & Kaufman, 2009).2: Trứng ruồi Lính đen (https://shopee.vn/50g-Tr%E1%BB%A9ng-Ru%E1%BB%93i-L%C3%ADnh- %C4%90en-T%E1%BB%B7-L%E1%BB%87-N%E1%BB%9F-98-T%E1%BA%B7ng- t%C3%A0i-li%E1%BB%87u-k%E1%BB%B9-thu%E1%BA%ADt-nu%C3%B4i-- i.3165398888) 4 Sâu non ruồi Lính đen Sâu non ruồi Lính đen có hình ngư lôi và dẹt ở mặt dưới. Đầu của sâu non chứa phần miệng nhai trong khi phần lưng được phân đoạn chứa lỗ chân lông (xoắn ốc) để thở.
Cơ thể sâu non được bao phủ bởi một làn da săn chắc, dẻo dai và độ dẻo dai phụ thuộc với độ tuổi. Sâu non sử dụng nhiều thức ăn nhất trong vòng đời của RLĐ (Caruso và cs. Phần nửa đầu cơ thể sâu non nhỏ hơn so với nửa cuối, lông trên cơ thể có màu vàng tươi đến màu vàng nâu. Đầu sâu non cứng dài và nhỏ hơn so với cơ thể, hàm trên và hàm dưới phát triển, sâu non có 3 đốt ngực và 8 đốt bụng.
Trên mặt lưng của đốt ngực trước có lông dày đặc và ở mép của đốt có đôi lỗ thở. Hậu môn giống như một rãnh dài có lông cứng ngắn hình nón, dọc theo nửa cuối của đốt bụng thứ 8. Tuổi cuối sâu non có thể dài tới 16 – 27mm và rộng 2,8 – 6,0mm (Rozkosný, 1982).3: Sâu b non và nhộng ruồi Lính đen (A, B, C là sâu B non, D là tiền nhộng, E là nhộng) Vòng đời B B Ruồi Lính đen có vòng đời trong vòng 40 – 45 ngày, chia làm 4 giai đoạn: Trứng, B sâu non, nhộng và ruồi trưởng thành b (Hình 2. Thời gian vòng đời của RLĐ phụ thuộc vào nhiều yếu tố môi trường b như nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng và thức ăn (Lê Đức b Ngoan và cs.4: Vòng đời của ruồi Lính đen (http://ruoilinhden.com/vong-doi-cua-ruoi-linh-den) 2.
Thành phần phân thải nuôi sâu non ruồi Lính đen Theo Lâm Văn Hà (2020) trong phân thải nuôi sâu non ruồi Lính đen rất nhiều chất dinh dưỡng như: hàm lượng chất hữu cơ tổng số 71.2%, hàm lượng đạm tổng số 2.39%, chỉ tiêu axit humic 3.46%, chỉ tiêu axit Fulvic 3%, hàm lượng kali tổng số 1.59%, hàm lượng lân tổng số 2. Cũng theo nghiên cứu trên, phân thải nuôi sâu non ruồi Lính đen còn cho thấy các chỉ tiêu vi sinh và kim loại nặng trong phân thải nuôi sâu non ruồi Lính đen gồm 2.7 × 10^9 cfu/g Bacillus subtilis, 3. Không phát hiện được Salmonella, E. Coli và một vài kim loại nặng như Pb, Cd, As, Hg.
Ứng dụng của sâu non ruồi Lính đen 2. Ứng dụng của sâu non ruồi Lính đen trong chăn nuôi Hiện nay, đã có nhiều nước trên thế giới sử dụng sâu non ruồi Lính đen để làm thức ăn trong chăn nuôi gia cầm thay thế cho thức ăn chăn nuôi truyền thống. Đã có rất nhiều nghiên cứu chỉ ra giá trị dinh dưỡng của sâu non ruồi Lính đen là rất lớn khi sử dụng làm thức ăn trong chăn nuôi. sâu non ruồi Lính đen chứa hàm lượng protein thô khoảng 38 – 46% và chất béo thô 21 – 35% khi được nuôi trên phế phụ phẩm chế biến (Oonincx và cs.
Kết quả các thí nghiệm trên chim cút thịt (Coturnixcoturnixjaponica) cho thấy việc sử dụng sâu non ruồi Lính đen làm thức ăn không làm giảm năng suất, khối lượng thịt ức và năng suất thịt so với thức ăn truyền 6 thống (Cullere và cs. Việc sử dụng sâu non ruồi Lính đen làm thức ăn cũng không ảnh hưởng đến chất lượng và hương vị của thịt ức hoặc thành phần cholesterol và cải thiện hàm lượng axit amin của thịt (tăng axit aspartic, axit glutamic, alanin, serine, tyrosine và threonine); tuy nhiên, tăng hàm lượng axit béo bão hòa và không bão hòa đơn không có lợi (Cullere và cs. Ruồi Lính đen cũng được sử dụng làm thức ăn nuôi gà thịt với mức thay thế là 8% vật chất tươi, tương đương với 2% vật chất khô (Moula và cs. Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng sử dụng sâu non ruồi Lính đen làm thức ăn giúp cho gà tăng trọng tốt hơn so với gà sử dụng thức ăn tiêu chuẩn.