Chương 1. T ng quan các vấn đề nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu. Tác động của nước biển dâng và định hướng sử dụng đất bền vững.
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Giải th ch từ ngữ 1. Đất đai Theo O 1995 đã định nghĩa về đất đai một cách như sau: Đất đai là một vùng đất có vị trí địa lý xác định, là đối tượng có tính tương đối n định hoặc thay đ i theo chu kỳ có thể dự đoán được, là nơi tiếp xúc với các thành phần: không khí, điều kiện địa chất, thủy văn, thực vật, những hoạt động của con người, mà những thuộc tính này ảnh hưởng có ý nghĩa tới việc sử dụng vùng đất đó của con người hiện tại và trong tương lai. Đất đai mang ý nghĩa là lớp phủ bề mặt của vỏ Trái đất mà đặc tính của nó được xem như bao gồm những đặc tính tự nhiên quyết định khả năng khai thác được hay không và ở mức độ nào của vùng đất đó.
Đất đai là một thực thể sống hình thành trong thời gian dài, là một trong những thành phần quan trọng làm nhiệm vụ nuôi sống tất cả các sinh vật trên trái đất Tôn Thất Chiểu, 1992). Đất đai không chỉ giới hạn là lớp đất trên bề mặt, mà còn được hiểu như là khái niệm pháp lý về bất động sản. Theo Tommy 2011 tài sản hợp pháp được định nghĩa là không gian bên trên, dưới hoặc trên mặt đất và bao gồm công trình xây dựng về mặt vật chất và pháp lý, ví dụ một tòa nhà. Đất đai trong khái niệm này cũng bao gồm cả đất có mặt nước bao phủ.
Trong các nghiên cứu về mục đích sử dụng đất, đất đai được nhìn nhận là một nhân tố sinh thái bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên, có ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất. Sử d ng đất Có rất nhiều khái niệm về sử dụng đất được sử dụng: Sử dụng đất là khái niệm được xây dựng trên cơ sở chức năng và mục đích sử dụng Turner và cộng sự 1995. Moser 1996 cho r ng sử dụng đất là cách thức và mục đích của con người tác động lên đất và tài nguyên của đất đai. Còn theo O 1995 đã đưa ra một định nghĩa khá hoàn chỉnh về khái niệm sử dụng đất là “Sử dụng đất liên quan đến chức năng hoặc mục đích sử dụng bởi con người và nó có thể được định nghĩa như là các hoạt động của con người có liên quan trực tiếp đến đất đai, sử dụng hoặc có tác động đến đất đai”.
Sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp thiết lập mối quan hệ tương tác giữa con người với đất đai trong một mối quan hệ với nguồn tài nguyên thiên nhiên -7- khác và môi trường. Quy luật phát triển kinh tế - xã hội cùng với yêu cầu phát triển bền vững, cũng như hệ sinh thái quyết định phương hướng chung và mục tiêu sử dụng đất hợp lý, phát huy tối đa tiềm năng đất đai, mang lại lợi ích sinh thái, kinh tế - xã hội. Mỗi loại hình sản xuất nhất định, tất các các yêu cầu phục vụ cho mục đích của con người ăn ở, sản xuất, đều phải dựa vào các đặc tính của đất đai. Biến động sử d ng đất iến động sử dụng đất là một thuật ngữ chung chỉ những thay đ i bề mặt lãnh th xảy ra do tác động của con người.
iến động sử dụng đất là sự thay đ i trạng thái tự nhiên của lớp phủ bề mặt đất gây ra bởi các tác động của con người. iến động sử dụng đất có thể gây hậu quả khác nhau đối với tự nhiên, môi trường, tiêu biểu nhất là sự thay đ i thảm thực vật, biến đ i tính chất vật lý đất, trong quần thể động, thực vật và tác động đến các yếu tố hình thành khí hậu. Theo aniel Muller 2003 chia biến động sử dụng đất thành 2 nhóm: Nhóm thứ nhất là sự thay đ i t loại hình sử dụng đất hiện tại sang loại hình sử dụng khác. Nhóm thứ hai là sự thay đ i về cường độ sử dụng đất trong cùng một loại hình.
Biến đổi kh hậu và NBD Biến đổi khí hậu: Là sự thay đ i của khí hậu và các thành phần trong khí quyển suốt một khoảng thời gian dài do tác động của các điều kiện tự nhiên và hoạt động của con người. ĐKH hiện nay biểu hiện bởi sự nóng lên toàn cầu, mực NBD và gia tăng các hiện tượng khí tượng– thủy văn theo hướng cực đoan. Kịch bản BĐKH: Là giả định có cơ sở khoa học về sự tiến triển trong tương lai của các mối quan hệ giữa kinh tế-xã hội, phát thải khí nhà kính, ĐKH và N. Nƣớc biển dâng: Trong báo cáo “Human Development Report 2015: Work for human development” (Báo cáo phát triển con người 2015: Việc làm vì phát triển con người) của UN P 2015 đã định nghĩa N là sự dâng mực nước của đại dương trên toàn cầu, trong đó không bao gồm triều, nước dâng do bão,.
NBD tại một vị trí nào đó có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với trung bình toàn cầu vì có sự khác nhau về nhiệt độ của đại dương và các yếu tố khác. Đánh giá tác động của BĐKH: Để đánh giá các tác động ĐKH, thường dựa trên các kịch bản ĐKH trong tương lai và được biểu hiện bởi sự thay đ i nhiệt độ, lượng mưa, mực nước biển dâng và một số thông tin khác. Tác động của NBD đến đất đai Nhìn chung, NBD dâng sẽ gây ra 1 số tác động chủ yếu sau (Barth và Titus, 1984; Dean, 1987a): - Làm ngập và biến mất các vùng đất trũng, đất ngập nước. - Làm gia tăng và trầm trọng hơn tình trạng ngập lụt ven biển.
- Gia tăng độ mặn vùng cửa sông và các tầng chứa nước. - Di chuyển vị trí các bãi bồi ở cửa sông lắng đọng trầm tích, thậm chí là biến mất vĩnh viễn. - Chiều cao các cột sóng biển tăng. Nhiễm mặn một tác động nghiêm trọng của sự gia tăng mực nước biển.
Nước biển dâng làm cho lưỡi mặn ăn sâu vào đất liền, tác động trực tiếp đến hệ thống sông ngòi và nước ngầm của thành phố, nguy cơ thiếu nước ngọt sẽ rất trầm trọng, ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt của người dân. Bên cạnh đó, N còn gây ra những tác động đó bao gồm ngập lụt do triều cường, gia tăng xói mòn bờ biển, thay đ i chất lượng nước mặt và đặc tính nước ngầm,. Nhiều quốc gia đang bị xói mòn bờ biển, nguyên nhân do nhiều yếu tố khác nhau như sự cung cấp và bồi lắng phù sa giảm, sụt lún đất và sự gián đoạn vận chuyển trầm tích dọc bờ biển bởi các công trình nhân tạo. Khi mực NBD cao, việc xói mòn và mất đất diễn ra nặng nề hơn.
Điều này sẽ gây thiệt hại về tài sản và môi trường sống ven biển, tác động đến nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản thông qua suy giảm chất lượng đất và nước, ảnh hưởng rất lớn đối với nền kinh tế. Do sự đa dạng môi trường ven biển; sự khác biệt giữa các vùng và địa phương về mực nước biển dự báo; và sự khác biệt về khả năng phục hồi và thích ứng của các hệ sinh thái, các lĩnh vực kinh tế quốc gia, các tác động sẽ rất khác nhau theo thời gian và không gian. Các đồng b ng sông ở châu Phi và châu Á và các quốc đảo nhỏ đặc biệt dễ bị t n thương do mực nước biển dâng. Ở khu vực đô thị, tác động của NBD càng trầm trọng hơn.
o thay đ i sử dụng đất như cũng như quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, bắt buộc phải phá r ng ở các vùng đất ven biển nh m mở rộng quy mô không gian đô thị. Các khu vực này vốn đã dễ bị ảnh hưởng bởi mực N cao cũng phải chịu ảnh hưởng bất lợi khi môi trường sống thay đ i đảo nhiệt đô thị, ô nhiễm không khí,. Tổng quan nghi n cứu về đánh giá tác động NBD đến thay đổi SDD 1. Trên thế giới T đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, các vấn đề hiệu ứng nhà kính, sự nóng lên toàn cầu và những dấu hiệu của ĐKH, N đã được nghiên cứu và đánh giá.
ĐKH có liên quan rất chặt chẽ tới đa dạng sinh học và hoang mạc hóa. Đây cũng là lý do vì sao Liên Hợp quốc lại ra nghị quyết về công ước Rio liên quan môi trường tại Hội nghị thượng đỉnh về phát triển bền vững ở Rio e Janeiro năm 1992 Công ước khung về ĐKH, Công ước về đa dạng sinh học và Công ước chống sa mạc hóa). Nhận thức được tầm quan trọng của việc thực hiện các cam kết chung về môi trường, Việt Nam đã ký tham gia cả ba công ước trên. Người ta thấy r ng giới hạn cho phép của nhiệt độ khí quyển được tăng thêm so với nhiệt độ trung bình nhiều năm là 2,50C.
Nếu vượt ra ngoài giới hạn ấy thì Trái Đất không tránh khỏi những thiệt hại to lớn. Thật vậy, khi nhiệt độ không khí và mặt đất gia tăng t 1,5 – 4,50C sẽ làm cho mực nước biển nâng cao t 0,7 – 1,5m. Nguyên nhân của hiện tượng ấy là do các khối băng ở Nam bán cầu, ở Bắc bán cầu và trên núi cao tan ra. Hậu quả là nhiều đồng b ng và thành phố ven biển n m dưới mức 3m so với mặt biển sẽ bị nhấn chìm.
Hai nguyên nhân chính gây ra sự gia tăng mực nước biển toàn cầu là sự giãn nở của nước trong đại dương khi nhiệt độ tăng và sự tan chảy làm gia tăng mực nước của băng tuyết, chẳng hạn như sông băng và các tảng băng. Đại dương đang hấp thụ hơn 90% lượng nhiệt khí quyển tăng lên liên quan đến khí thải t hoạt động của con người. Khi loài người gây ô nhiễm bầu khí quyển với hàng loạt khí nhà kính (CO2, CH4,.), khiến Trái đất sẽ ấm lên. Và khi điều này xảy ra, các tảng băng và sông băng tan chảy và nước biển sẽ dâng lên, làm tăng thể tích của các đại dương trên thế giới.
Mực nước biển trung bình đã dâng cao hơn 8 inch (khoảng 23 cm) kể t năm 1880, hiện nay mỗi năm mực nước biển tăng thêm 0,13 inch 3,2 mm .