Mở đầu cho xu hướng này Chami, R. và cộng sự (2003) đã sử dụng dữ liệu kiều hối tổng hợp cho mẫu gồm 83 quốc gia trong khoảng thời gian từ 1970 đến 1998. Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu bảng, hồi quy tốc độ tăng trưởng GDP theo tỷ lệ đầu tư trên GDP, tỷ lệ lạm phát, biến giả vùng và tỷ lệ dòng tư bản thực trên GDP. Dữ liệu kiều hối nhóm tác giả sử dụng lấy từ lượng kiều hối chuyển về của những người cư trú.
Sau đó, nhóm tác giả thay biến tỷ lệ kiều hối của người cư trú trên GDP bằng tỷ lệ tăng trưởng của biến này như là một nhân tố hồi quy để phù hợp với bản chất năng động của chuyển giao tư nhân. Chami và cộng sự (2003) đã khám phá ra rằng, tỷ lệ đầu tư trên GDP và tỷ lệ dòng tư bản thực trên GDP có tương quan dương với tăng trưởng nhưng tỷ lệ kiều hối trên GDP hoặc là không có ý nghĩa thống kê hoặc có tác động tiêu cực đến sự tăng trưởng. Bước hồi quy tiếp theo bài nghiên cứu làm sáng tỏ nghi vấn liệu có mối quan hệ phi tuyến giữa kiều hối và tăng trưởng kinh tế bằng cách thêm biến bình phương của tỷ lệ kiều hối trên GDP nhưng kết quả hồi quy không có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên, khi biến tỷ lệ tăng trưởng kiều hối trên GDP được thêm vào để thay thế biến tỷ lệ kiều hối trên GDP thì có tác động tiêu cực và có ý nghĩa thống kê đến tăng trưởng kinh tế.
Mối tương quan giữa kiều hối và thu nhập là nguyên nhân dẫn đến vấn đề nội sinh, nhóm tác giả đã sử dụng biến công cụ và tiến hành hồi quy hai bước (2SLS) với biến công cụ này để ước lượng mối quan hệ. Trong giai đoạn đầu, mỗi 16 tỷ lệ kiều hối trên GDP được ước lượng là một hàm của chênh lệch thu nhập và chênh lệch lãi suất thực của tiền gửi của mỗi quốc gia so với Mỹ. Trong giai đoạn thứ hai, hồi quy tăng trưởng GDP trên đầu người được ước lượng sử dụng giá trị phù hợp của tỷ lệ kiều hối trên GDP ở giai đoạn một. Theo phương pháp này, biến động tỷ lệ kiều hối trên GDP cũng cho thấy tác động tiêu cực đến tăng trưởng.
Để giải thích cho mối tương quan âm giữa kiều hối và tăng trưởng kinh tế, Chami và cộng sự (2003) chỉ ra rằng kiều hối làm thay đổi mối tương quan giữa lao động và sản lượng. Trong điều kiện không có kiều hối sẽ thúc đẩy tăng cung lao động để bù đắp thu nhập suy giảm. Tuy nhiên, kiều hối đóng vai trò như bảo hiểm chống lại cú sốc thu nhập giảm, nó đồng thời khiến cung lao động không tăng như kỳ vọng. Do đó chu kỳ kinh tế có thể diễn ra theo hướng tồi tệ hơn, tăng rủi ro về sản lượng lẫn thị trường lao động.
Kết quả của mô hình cho thấy, kiều hối có thể làm giảm động cơ làm việc ở các nước tiếp nhận, tạo ra sự phụ thuộc tài chính lâu dài và làm giảm tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu của IMF (2005): Hai vấn đề những quốc gia đang phát triển đang phải đối mặt. Thực hiện tương tự hồi quy trong nghiên cứu của Chami, R. và cộng sự (2003), IMF (2005) đã thực hiện nghiên cứu bằng cách lấy mẫu 101 quốc gia đang phát triển trong giai đoạn từ 1970 – 2003.
Tuy nhiên, dữ liệu kiều hối trong nghiên cứu của IMF (2005) khác với nghiên cứu của Chami, R. và cộng sự (2003), kiều hối trong bài nghiên cứu này bao gồm ba thành phần: kiều hối của người cư trú, thu nhập lao động ở nước ngoài và tài sản thuyên chuyển của người di cư. IMF sử dụng các biến sau để hồi quy: GDP thực bình quân đầu người, tỷ lệ kiều hối trên GDP, bộ biến kiểm soát bao gồm: log của thu nhập kỳ trước, giáo dục (đo lường bằng tỷ lệ tốt nghiệp cấp hai), log của 17 tuổi thọ, đầu tư, lạm phát, cán cân ngân sách, độ mở thương mại và phát triển tài chính. Bài nghiên cứu của IMF cũng gặp phải vấn đề nội sinh và cũng tìm cách xử lý vấn đề này bằng cách sử dụng biến công cụ.
Dựa theo Rajan và Subramanian (2005), nhóm nghiên cứu sử dụng hai biến công cụ để đo lường khoảng cách địa lý giữa quốc gia nhận kiều hối và quốc gia có số lượng người dân của quốc gia nhận kiều hối di cư đến lớn nhất, biến công cụ thứ hai là một biến giả đo lường xem quê hương của người di cư và nước chủ nhà có cùng ngôn ngữ chung không. Bởi vì các biến công cụ này không thay đổi theo thời gian, do đó ước lượng trung bình từ năm 1970-2003 có thể thực hiện. Kết quả nghiên cứu của IMF (2005) chỉ ra rằng kiều hối không có tác động đối với tăng trưởng GDP bình quân đầu người ít nhất là trong các quốc gia được nghiên cứu. Nghiên cứu của Adam (2005): Kiều hối có làm giảm nghèo đói ở những nƣớc đang phát triển hay không? Adam (2005) thực hiện nghiên cứu mối quan hệ của kiều hối và di cư quốc tế với nghèo đói ở những nước đang phát triển.
Ông sử dụng mẫu nghiên cứu gồm 71 nước đang phát triển trên thế giới từ năm 1988-1999. Đầu tiên, Adam sử dụng phương pháp OLS để ước lượng. Tuy nhiên, sau đó ông lại cho rằng biến kiều hối và tỷ lệ di cư quốc tế có thể không phải là biến độc lập ngoại sinh. Kiều hối và di cư quốc tế có thể làm giảm nghèo đói, nhưng nghèo đòi có thể tác động đến lượng kiều hối gửi về hoặc tỉ lệ di cư.
Do vậy để khắc phục hiện tượng nội sinh trong mô hình nghiên cứu ông sử dụng biến công cụ. Có ba biến công cụ đã được sử dụng: đầu tiên là biến khoảng cách giữa các nước gửi và nhận kiều hối, đây được xem là biến công cụ tương đối tốt. Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng khoảng cách giữa nước gửi và nhận kiều hối có tương quan âm với tỉ lệ di cư, biến công cụ thứ hai được sử dụng là giáo dục, biến này được xem là có 18 tương quan dương với tỉ lệ di cư, biến công cụ cuối cùng được sử dụng là sự ổn định chính trị. Adam còn phát hiện ra rằng quy mô di cư quốc tế (được đo bằng tỷ trọng dân số sống ở nước ngoài) và quy mô kiều hối gửi về (được đo bằng tỷ lệ của lượng kiều hối trên GDP) đều có tác động đáng kể đến việc xoá đói giảm nghèo ở các nước đang phát triển.
Cụ thể 10% gia tăng trong di cư quốc tế, sẽ giảm 3.5% tỷ lệ dân số sống trong nghèo đói; 10% gia tăng trong lượng kiều hối làm giảm 2.1% tỷ lệ dân số sống trong nghèo đói. Hay nói cách khác, kiều hối và di cư quốc tế có tác động tích cực đối với việc giảm nghèo đói ở những nước đang phát triển góp phần đáng kể đến tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu của Catrinescu, N. và cộng sự (2006): Kiều hối, các định chế và tăng trƣởng kinh tế.
và cộng sự (2006) cho rằng kết quả nghiên cứu của Chami và cộng sự (2003) không vững do hai nguyên nhân: phương pháp ước lượng sai lý thuyết và thất bại trong việc sử dụng bộ biến kiểm soát. Riêng về phương pháp ước lượng, Chami và cộng sự đã không chỉ ra các vấn đề liên quan đến ước lượng bảng khi các phần dư tự tương quan và giải quyết hoàn toàn vấn đề nội sinh. Mặc dù, Chami và cộng sự đã sử dụng phương pháp hồi quy biến công cụ với các công cụ là chênh lệch thu nhập và chênh lệch lãi suất giữa Mỹ với các nước nhận kiều hối nhưng vẫn chưa loại bỏ hoàn toàn vấn đề nội sinh, chính vì vậy làm kết quả hồi quy bị sai lệch. Do đó để bài nghiên cứu giải quyết được các vấn đề trên, Catrinescu, N.
và cộng sự (2006) đã sử dụng phương pháp ước lượng Dynamic Panel Data (DPD) để hồi quy mẫu dữ liệu gồm 114 quốc gia từ năm 1991 đến năm 2003. Dữ liệu kiều hối nhóm nghiên cứu sử dụng được lấy từ nguồn của World Bank. Nhóm nghiên cứu tiếp tục lập luận cơ bản để tăng hiệu quả tác động của kiều hối đối với tăng trưởng kinh tế của một quốc gia là hướng dòng kiều hối này vào hoạt động đầu tư, tạo môi 19 trường kinh doanh lành mạnh và lĩnh vực tài chính an toàn khuyến khích các hộ gia đình sử dụng kiều hối để đầu tư vào cả vốn vật chất và vốn con người. Từ đó, Catrinescu và cộng sự nhận ra vai trò quan trọng của các tổ chức trong việc thực hiện các chính sách kinh tế và quản trị hỗ trợ môi trường đầu tư kinh doanh, hướng dòng kiều hối đến các hoạt động góp phần tăng trưởng kinh tế.
Chính vì vậy, nhóm nghiên cứu đã đưa thêm vào bộ biến kiểm soát ngoài GDP đầu người kỳ trước, tỷ lệ nguồn vốn (đầu tư) và dòng vốn tư nhân ròng trên GDP thì có thêm các biến định chế sau: Chỉ số phát triển con người (UNHDI), chỉ số mức độ tham nhũng (CPI), sáu chỉ số điều hành như trong nghiên cứu của Kaufmann, Kraay và Mastruzzi (2003) và các chỉ số rủi ro chính trị ICRG. Dựa trên những lập luận và phương pháp nghiên cứu cơ bản của Chami và cộng sự (2003), nhóm nghiên cứu đã khắc phục được những hạn chế của bài nghiên cứu trước đây để có được kết quả nghiên cứu vững và thuyết phục hơn. Kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ cùng chiều giữa tăng trưởng và đầu tư cũng như giữa tăng trưởng và một số biến định chế. Nghiên cứu cũng đưa ra bằng chứng về mối tương quan thuận giữa tăng trưởng kinh tế và kiều hối mặc dù mối quan hệ này khá yếu.
Aggarwal, Kunt và Peria (2006) nghiên cứu kiều hối có thúc đẩy phát triển tài chính hay không? Trong khi tiềm năng phát triển của các dòng kiều hối ngày càng được công nhận, tác động của kiều hối đến phát triển tài chính phần lớn vẫn chưa được nghiên cứu. Vì vậy, hiểu biết tốt hơn tác động của kiều hối đến phát triển tài chính là rất quan trọng để có thể tạo điều kiện cho dòng ngoại tệ này góp phần vào tăng trưởng và giảm nghèo của quốc gia nhận kiều hối. Bài nghiên cứu của Aggarwal, Kunt và Peria (2006) đã cố gắng để lấp đầy khoảng trống trong các nghiên cứu trước đây.