Chương 1 giới thiệu chung về đề tài, lý do chọn đề tài, tổng quan lịch sử nghiên cứu của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, và cấu trúc các chương của luận văn. Cơ sở lý luận về kiều hối và tác động của kiều hối đến nền kinh tế. Chương 2 tóm tắt lại các lý thuyết chung về tác động của kiều hối đến nền kinh tế và các lý thuyết liên quan để làm cơ sở lý luận cho các phân tích của luận văn. Tổng quan về tác động của kiều hối đến nền kinh tế của một số nước ASEAN.
Chương 3 trình bày những nét chính về nền kinh tế và tình hình, đặc điểm của luồng kiều hối chảy vào một số nước ASEAN. Một phần quan trọng của chương này là trình bày một số case study là quốc gia cụ thể trong ASEAN để thấy được tác động của kiều hối đến nền kinh tế. Nghiên cứu thực nghiệm về tác động của kiều hối đến tăng trưởng kinh tế của một số nước asean. Chương 4 trình bày chi tiết về dữ liệu, phương pháp và kết quả nghiên cứu thực nghiệm tác động của kiều hối đối với tăng trưởng kinh tế của một số nước ASEAN, đồng thời đưa ra giải thích về ý nghĩa của kết quả thu được.
12 Chương 5 tổng kết kết quả nghiên cứu trong luận văn, và đưa ra một số khuyến nghị chính sách chung dựa trên kết quả nghiên cứu và tổng hợp các lý thuyết trước đây về kiều hối. Ngoài ra, luận văn còn có phần danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục đính kèm. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỀU HỐI VÀ TÁC ĐỘNG CỦA KIỀU HỐI ĐẾN NỀN KINH TẾ Chương này trình bày các lý thuyết chung về di cư, kiều hối, và tác động của kiều hối đến nền kinh tế để làm cơ sở lý luận cho phần phân tích tiếp theo của luận văn. Các lý thuyết về di cư cần thiết được nêu ra do mối quan hệ giữa di cư và các dòng kiều hối, có di cư thì mới có kiều hối, và giữa các nguyên nhân của việc di cư với các yếu tố tác động đến kiều hối.
Lý thuyết chung về di cư Theo Tổ chức Di cư Quốc tế, một cơ quan về di cư của Liên Hợp Quốc. (IOM, 2017), di cư là việc một người hoặc một nhóm người vượt qua biên giới giữa các quốc gia, hoặc giữa các vùng trong một quốc gia, không kể thành phần nhóm người, thời gian hay nguyên nhân; bao gồm cả tị nạn, di cư vì mục đích kinh tế, di cư để đoàn tụ gia đình, và các lý do khác. Theo thống kê của Liên Hợp Quốc (United Nations, 2017), trong năm 2015, trên thế giới có khoảng 258 triệu người di cư quốc tế, chiếm xấp xỉ 3.4% dân số thế giới. Trong đó có nhiều hình thức như di cư tự nguyện hoặc bị ép buộc, di cư hợp pháp hoặc trái phép.
Người tị nạn hoặc xin tị nạn là những người buộc phải di cư do các lý do chính trị hoặc môi trường sống và có thể là di cư trái phép, trong khi đó lao động di cư lại là tự nguyện, và đa phần là hợp pháp. Do gần như không có số liệu chính xác về số lượng người di cư trái phép, nên hầu như các thống kê về di cư đều là các con số ước tính. Đồng thời, trong nhiều trường hợp, lao động giữa các quốc gia có thể tự do di chuyển mà không cần đăng ký, do giữa các quốc gia có các hiệp định về tự do di chuyển thể nhân, do đó cũng rất khó để tính chính xác số lượng lao động di cư hợp pháp. Có rất nhiều trường phái lý thuyết khác nhau về di cư.
Có thể kể ra như lý thuyết tân cổ điển trong những năm 50 và 60, như Mô hình Lực hấp dẫn và Mô hình Todaro. Trong những năm 70 và 80, lý thuyết lịch sử – cấu trúc xuất hiện, có nguồn gốc từ trường phái kinh tế chính trị Mác-xít, tập trung chủ yếu vào hiện tượng chảy máu chất xám và sự hội nhập. Trong những năm 90, đáp lại 14 những lý thuyết trước đây, một lý thuyết mới mang tên Thuyết kinh tế mới về di cư lao động trở thành trào lưu chính trong giai đoạn này. Thuyết tân cổ điển Thuyết di cư tân cổ điển có thể được chia thành hai trường phái chính: Vi mô và Vĩ mô.
Lương, năng lực lao động và chi phí di cư là các yếu tố quyết định trong cả hai trường phái (Massey, 1993). Thuyết di cư tân cổ điển vĩ mô cho rằng các dòng lao động chuyển dịch do sự khác biệt trong tiền lương, từ những quốc gia có tiền lương thấp đến những quốc gia có tiền lương cao, và vốn sẽ chuyển dịch theo hướng ngược lại. Các quốc gia có tiền lương thấp sẽ có nhiều lao động hơn một cách tương đối, và chính nguồn cung lao động lớn này giữ tiền lương ở mức thấp hơn. Các quốc gia có tiền lương cao hơn có nguồn vốn dồi dào hơn một cách tương đối, do đó, vốn sẽ chuyển dịch sang các quốc gia lương thấp, và lao động sẽ chuyển dịch sang các quốc gia lương cao.
Quá trình này sẽ làm cho tiền lương trở về mức cân bằng. Trong dài hạn, dòng di cư sẽ suy giảm do sự cân bằng của tiền lương làm giảm động lực để lao động di cư. Thuyết di cư tân cổ điển vi mô lại giải thích di cư thông qua phân tích chi phí và lợi ích của các cá nhân mong muốn tối đa hóa thu nhập của bản thân. Các cá nhân sẽ xem xét thu nhập ròng từ việc di cư trước khi quyết định.
Nếu khả năng có được việc làm với thu nhập dự kiến cao hơn các cơ hội ở quê nhà với chi phí di cư, cá nhân đó có thể sẽ di cư. Mỗi cá nhân sẽ xem xét một mức thu nhập ròng từ việc di cư khác nhau, tùy thuộc vào hoàn cảnh của họ (Massey, 1993). Thuyết lịch sử - cấu trúc Trong những năm 70 và 80, đáp trả lại thuyết tân cổ điển, một thuyết mới có nguồn gốc từ Học thuyết kinh tế chính trị Mác-xít, mang tên thuyết lịch sử - cấu trúc được phát triển. Thuyết này tập trung vào việc sử dụng lao động quy mô lớn, cho rằng di cư không phải là quyết định tự nguyện của các cá nhân, mà chính hệ thống kinh tế truyền thống buộc người ta 15 phải rời khỏi quê hương mình để duy trì một sự phân phối nguồn lực bất bình đẳng giữa các quốc gia giàu và nghèo.
Theo đó, di cư là một cách duy trì nguồn lao động giá rẻ cho các quốc gia giàu có. Thuyết này cho rằng, di cư tạo ra sự kém phát triển và không thúc đẩy sự phát triển ở các quốc gia nghèo (Castles, 2014). Thuyết kinh tế mới về di cư lao động Thuyết kinh tế mới về di cư lao động xuất hiện vào những năm 90, phản biện lại những lý thuyết trước đây về di cư, đặc biệt là thuyết tân cổ điển. Điểm mấu chốt của thuyết này là quyết định di cư không phải là quyết định cá nhân, mà là quyết định tập thể của gia đình người di cư.
Các quyết định di cư nhằm mục đích tối đa hóa thu nhập gia đình, đồng thời giảm thiểu rủi ro và giảm thiểu các ràng buộc do các thất bại thị trường. Kiều hối có thể đóng vai trò như một khoản bảo hiểm cho các rủi ro trong tương lai. Kiều hối cũng có thể được sử dụng như nguồn đầu tư, khi không thể tiếp cận với các nguồn vốn nhà nước hay tư nhân khác (Massey, 1993). Lý thuyết chung về kiều hối Kiều hối là dòng tiền từ người di cư ở nước ngoài chuyển về cho gia đình của họ ở tổ quốc (Koser, 2007).
Nói một cách khác, kiều hối là dòng ngoại tệ được chuyển qua các cá nhân sống ở nước ngoài. Khái niệm kiều hối chỉ bao hàm các dòng vốn tài chính, không bao hàm các sự luân chuyển khác như thông tin hay công nghệ. Carling (2008) cho rằng chính kiều hối là động lực chính của di cư. Ảnh hưởng của di cư không chỉ bó hẹp ở những người di cư, do trong rất nhiều trường hợp, người di cư để lại gia đình của mình ở nhà, sau đó gửi kiều hối về hỗ trợ cuộc sống của gia đình mình.
Hàng triệu người trên thế giới chịu ảnh hưởng trực tiếp của kiều hối. Nguồn tiền này thường được sử dụng để xóa đói, giảm nghèo, cung cấp thực phẩm, quần áo, thuốc men, chỗ ở cho những người nhận kiều hối (Barajas và các cộng sự, 2009). Đồng thời, kiều hối làm tăng thu nhập của người nhận, và tăng dự trữ ngoại hối của quốc gia nhận. Kiều hối còn góp phần kích thích sản xuất thông qua tăng tiêu dùng, và đầu tư vào 16 thị trường nội địa.
Những lợi ích này có thể bù đắp được những tổn thất về nhân lực chất lượng cao mà một quốc gia phải chịu khi lao động di chuyển sang quốc gia khác (Ratha, 2005). Adelman và Taylor (1990) cho rằng mỗi Đô-la Mỹ kiều hối chuyển cho khu vực thành thị của Mê-xi-cô, từ lao động ở nước ngoài, làm tăng tổng sản phẩm quốc gia (GNP) thêm 2,9 Đô-la Mỹ, và tổng sản phẩm quốc gia của Mê-xi-cô tăng thêm 3,4 Đô-la Mỹ cho mỗi Đô-la Mỹ kiều hối mà vùng nông thôn nước này nhận được. Sự khác biệt giữa hai trường hợp này là do những người sống ở nông thôn thường có xu hướng chi dùng kiều hối cho hàng hóa nội địa, nên nó có tác động lớn hơn đến nền kinh tế trong nước. Lowell (2000) lại chỉ ra thêm rằng, kể cả khi kiều hối không được sử dụng để đầu tư, mà được dùng cho các nhu cầu cơ bản hàng ngày, nó vẫn có tác động tăng cầu hàng hóa và dịch vụ, từ đó kích thích sản xuất, góp phần tạo thêm việc làm.
Phần tiếp theo sẽ trình bày các yếu tố tác động đến kiều hối. Việc hiểu được động lực của kiều hối là cần thiết để phân tích các tác động của kiều hối đến nền kinh tế, do hai lý do sau. Thứ nhất, lượng kiều hối được người di cư chuyển về cho gia đình phụ thuộc vào nguyên nhân ban đầu khiến một cá nhân lựa chọn việc di cư. Lượng kiều hối và thời điểm chuyển kiều hối sẽ quyết định tác động của kiều hối đến nền kinh tế của nước nhận.
Thứ hai, mục đích chuyển kiều hối sẽ ảnh hưởng đến cách kiều hối được sử dụng, việc kiều hối được sử dụng như thế nào quyết định tác động của nó đến nền kinh tế của nước nhận.