Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng (mã số 9.01) của tác giả Trần Huy Tùng, được bảo vệ tại Học viện Ngân hàng năm 2019 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Thị Tuấn Nghĩa và TS. Nguyễn Thị Phương Lan, tập trung nghiên cứu đề tài "Chính sách kiều hối phục vụ phát triển kinh tế Việt Nam".

Tính cấp thiết của luận án xuất phát từ bối cảnh tích lũy vốn cho tăng trưởng dài hạn theo học thuyết của mô hình Swan-Solow. Đối với các quốc gia đang phát triển có tỷ lệ tiết kiệm nội địa thấp, nguồn vốn từ bên ngoài giữ vai trò trọng yếu trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Kiều hối được xác định là nguồn tài chính chi phí thấp do không phải chịu nghĩa vụ trả lãi, có quy mô và tính ổn định vượt trội so với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) hay viện trợ phát triển chính thức (ODA) tại nhiều quốc gia (World Bank, 2017). Tại Việt Nam, thống kê của World Bank cho thấy lượng kiều hối chuyển về nước đã gia tăng từ 141 triệu USD năm 1993 lên xấp xỉ 16 tỷ USD vào năm 2018 (tăng khoảng 100 lần). Trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008–2009, khi các dòng vốn ODA và FDI suy giảm, lượng kiều hối vào Việt Nam vẫn duy trì đà tăng trưởng ổn định.

Tuy nhiên, tác giả chỉ ra dòng kiều hối cũng tiềm ẩn những tác động tiêu cực đối với nền kinh tế vĩ mô:

  1. Hiện tượng "bội thực vốn ngoại" khi nền kinh tế tiếp nhận một lượng ngoại tệ đột biến (điển hình như năm 2007 khi lượng vốn ngoại đổ vào lớn, bao gồm khoảng 7 tỷ USD kiều hối, gây sức ép tăng giá đồng Việt Nam, buộc Ngân hàng Nhà nước phải can thiệp mua ngoại tệ, tạo áp lực lạm phát và kích thích bong bóng tài sản trên thị trường chứng khoán và bất động sản).
  2. Tình trạng đô la hóa nền kinh tế làm giảm hiệu lực của chính sách tiền tệ.
  3. Xu hướng tiêu dùng quá mức đối với hàng nhập khẩu giá trị cao.
  4. Nguy cơ từ hoạt động rửa tiền quốc tế.
  5. Quy mô kiều hối qua kênh phi chính thức còn lớn (ước tính chiếm khoảng 30% tổng lượng kiều hối theo số liệu của cơ quan quản lý), gây trở ngại cho việc hoạch định và thực thi chính sách vĩ mô.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án nhận diện là hệ thống chính sách kiều hối hiện hành tại Việt Nam còn thiếu tính đồng bộ, chưa có sự kết nối chặt chẽ giữa chính sách công và khu vực tư nhân, chưa chú trọng đúng mức đến việc khuyến khích chuyển hóa dòng kiều hối vào các kênh đầu tư phát triển, đồng thời thiếu các biện pháp nâng cao tính minh bạch trên thị trường chuyển tiền trung gian.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là xây dựng hệ thống giải pháp và khuyến nghị chính sách kiều hối nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế tại Việt Nam trên cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế và đánh giá thực trạng. Các mục tiêu cụ thể gồm:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về kiều hối, tác động của kiều hối và chính sách kiều hối phục vụ phát triển kinh tế theo mô hình cung – trung gian – cầu.
  2. Tổng kết kinh nghiệm quốc tế về chính sách kiều hối tại một số quốc gia và rút ra bài học cho Việt Nam.
  3. Phân tích thực trạng dòng kiều hối, đánh giá thực nghiệm tác động của kiều hối tới tăng trưởng kinh tế vĩ mô và kinh tế hộ gia đình, đồng thời rà soát khung chính sách kiều hối giai đoạn 1999–2018 tại Việt Nam.
  4. Đề xuất quan điểm, mục tiêu, hệ thống giải pháp và khuyến nghị chính sách kiều hối phục vụ phát triển kinh tế Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là chính sách kiều hối phục vụ phát triển kinh tế. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung vào nền kinh tế Việt Nam, có sự đối chiếu với kinh nghiệm của các quốc gia như Ấn Độ, Mexico, Philippines, El Salvador. Phạm vi thời gian nghiên cứu thực trạng chính sách và dữ liệu thứ cấp tập trung chủ yếu từ năm 1999 (thời điểm ban hành Quyết định 170/1999/QĐ-TTg về khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài chuyển tiền về nước) đến năm 2018, kết hợp chuỗi dữ liệu kinh tế vĩ mô từ năm 1993 đến năm 2018.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan nghiên cứu quốc tế trong luận án được cấu trúc theo ba nhóm chủ đề:

Về định nghĩa, phương pháp đo lường và dòng kiều hối: Nghiên cứu của Kapur (2003) và World Bank (2007) chỉ ra sự sai khác trong định nghĩa kiều hối dẫn đến sai lệch trong thống kê giữa các quốc gia. IMF (2009) mở rộng khái niệm kiều hối trong Cẩm nang Cán cân thanh toán và Vị thế đầu tư quốc tế (BPM6). Ratha và Shaw (2007) ước tính có khoảng 10%–29% lượng kiều hối toàn cầu dịch chuyển giữa các quốc gia đang phát triển (dòng Nam – Nam). Về kênh phi chính thức, Freund và Spatafora (2005) sử dụng lý thuyết kinh tế ngầm ước tính kiều hối phi chính thức chiếm từ 35%–75% lượng kiều hối chính thức trên mẫu 100 quốc gia. Adams (2007) khảo sát tại Ghana cho thấy người di cư quốc tế gửi tiền qua kênh chính thức đạt 43%, trong khi di cư nội địa chỉ đạt 1%. Orozco (2006) phân tích chi phí chuyển tiền cao tại 8 quốc gia Mỹ Latinh (trên 10% năm 2000, giảm còn 5,6% năm 2006). Aggarwal, Demirguc-Kunt và Peria (2006), Giuliano và Ruiz-Arranz (2005) chứng minh kiều hối qua kênh chính thức giúp mở rộng tín dụng và thúc đẩy phát triển tài chính.

Về các nhân tố ảnh hưởng tới dòng kiều hối:

  • Cấp độ vĩ mô: Lucas và Stark (1985), Wahba (1991), Aydas, Metin-Ozcan và Neyapti (2005) phân tích các yếu tố tỷ giá, lãi suất, lạm phát và chênh lệch thu nhập (nghiên cứu tại Thổ Nhĩ Kỳ giai đoạn 1965–1993 và 1979–1993).
  • Cấp độ vi mô: Các yếu tố văn hóa (Jones, 2011; Smith, 2001; Kurrien, 2008 tại Kerala - Ấn Độ; Tacoli, 1999 tại Roma); yếu tố giới tính (Pfieffer và cộng sự, 2007; Osaki, 1999 tại Thái Lan; Abrego, 2009 tại El Salvador; Rahman và Fee, 2009 tại Indonesia; King và Vullnetari, 2009 tại Albania); nhân khẩu học và học vấn (Durand và cộng sự, 1996; Naufal, 2007; Adams, 2008; Faini, 2007; Bollard và cộng sự, 2009 trên mẫu 11 nước OECD; de la Briere và cộng sự, 2002 tại Dominica); vai trò của các tổ chức Hội đồng hương ở nước ngoài - HTA (Levitt và Jaworsky, 2007; Orozco và Rouse, 2007; Goldring, 2004; Orozco và Welle, 2006 về chương trình 3x1 tại Mexico; Alarcon, 2002; Fox và Bada, 2008; Paul và Gamage, 2005).

Về sử dụng và tác động của kiều hối:

  • Tiêu dùng và đầu tư: Chami, Fullenkamp và Jahjah (2003) cho rằng phần lớn kiều hối dành cho tiêu dùng và đầu tư vào tài sản phi sản xuất. Trái lại, Adams và Cuecuecha (2010) tại Guatemala, Edwards và Ureta (2003) tại El Salvador (giảm 54% nguy cơ bỏ học cấp 2 ở thành thị), Yang (2005) tại Philippines chỉ ra kiều hối làm tăng chi tiêu cho giáo dục. Osili (2004, 2007) tại Nigeria và Woodruff và Zenteno (2007) tại Mexico xác nhận kiều hối hỗ trợ hình thành doanh nghiệp nhỏ và xây dựng nhà ở.
  • Tăng trưởng kinh tế: Các nghiên cứu đa quốc gia sử dụng mô hình GMM và OLS (Upadhyaya và cộng sự, 2008; Fayissa và Nsiah, 2008; Lartey và cộng sự, 2008; Barajas và cộng sự, 2009). Các nghiên cứu quốc gia đơn lẻ sử dụng mô hình VAR/VECM: Uprety (2017) tại Nepal; Belmimoun và cộng sự (2014) tại Algeria; Ahmed và Hakim (2017) tại Togo; Munir và cộng sự (2016) tại Pakistan.
  • Hệ số nhân và giảm nghèo: Glytsos (1993) tìm ra hệ số nhân sản lượng của kiều hối tại Hy Lạp là 1,7; Taylor (1995) ghi nhận hệ số nhân 1,6 tại vùng nông thôn Mexico; Taylor và Dyer (2009) kiểm định bằng mô hình CGE. Adams và Page (2005) phân tích 71 quốc gia cho thấy kiều hối tăng 10% giúp giảm 3,5% tỷ lệ nghèo; Acosta và cộng sự (2006) trên 10 nước Mỹ Latinh; Lokshin và cộng sự (2007) tại Nepal; Adams (2006) tại Ghana. Mối quan hệ với bất bình đẳng được phân tích qua hệ số Gini bởi Barham và Boucher (1998) tại Nicaragua, McKenzie và Rapoport (2007) tại Mexico, Jones (1998), Brown và Jimenez (2008). Brown và Carmignani (2015) tìm thấy tác động phi tuyến hình chữ U ngược của kiều hối lên tín dụng với ngưỡng 2,5% GDP.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu định tính và thống kê mô tả bao gồm: Lê Minh Tâm và Nguyễn Đức Vinh (1999) ước tính kiều hối thập niên 1990 khoảng 1 tỷ USD (5% GDP); Nguyễn Anh Dũng và cộng sự (2005) đánh giá đầu tư của Việt kiều; Đặng Nguyên Anh (2005); Hernández-Coss (2005) nghiên cứu hành lang kiều hối Canada – Việt Nam; Đinh Anh Tuấn (2016), Hoàng Thị Thu Hà (2016), Đào Văn Thanh và cộng sự (2016). Các nghiên cứu định lượng gồm: Khaled Sakr (2006) dùng mô hình OLS giai đoạn 1991–2005; Pfau và Giang Thanh Long (2006) dùng dữ liệu VHLSS chỉ ra 73% kiều hối dùng cho tiêu dùng, 14% xây sửa nhà, 6% đầu tư; Nguyễn Thị Thùy Linh (2006) dùng VHLSS 2002; Đoàn Đình Trọng (2016) dùng VHLSS 2010 và 2012 với phương pháp ATT; Nguyễn Đức Thành (2007) và Đỗ Thị Đức Minh và cộng sự (2007) áp dụng mô hình cân bằng tổng thể (CGE); Đỗ Thị Kim Hảo và cộng sự (2013) nghiên cứu dữ liệu quý 1996–2012; Nguyễn Kim Anh và cộng sự (2017) điều tra bảng hỏi 1.017 lao động xuất khẩu và 663 Việt kiều.

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án giải quyết là khắc phục sự phân mảnh của các nghiên cứu trước bằng cách tiếp cận hệ thống chính sách kiều hối theo khung phân tích cung – trung gian – cầu. Luận án kết hợp đồng thời phương pháp định lượng vĩ mô (VECM) và vi mô (PSM trên dữ liệu VHLSS) với phương pháp định tính phỏng vấn chuyên sâu cán bộ hoạch định chính sách tại Ngân hàng Nhà nước và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, lấp đầy khoảng trống về cơ chế phối hợp thể chế và giải pháp định hướng dòng kiều hối vào khu vực sản xuất kinh doanh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên nền tảng lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển Swan-Solow về tích lũy vốn, lý thuyết kinh tế học mới về di cư lao động, lý thuyết kinh tế ngầm, và khung khái niệm của IMF (2009) theo Cẩm nang BPM6. Theo BPM6, các khoản mục cấu thành kiều hối bao gồm:

Ký hiệu Khoản mục Tên tiếng Anh trong BPM6 Đặc điểm và giải thích theo quy chuẩn
A Chuyển giao tư nhân Personal Transfers Các khoản chuyển giao vãng lai bằng tiền hoặc hiện vật giữa người không cư trú và người cư trú (thời hạn lao động/sinh sống trên 1 năm).
B Thu nhập của người lao động Compensation of Employees Tiền lương, tiền thưởng và thu nhập ròng đổi lại sức lao động của cá nhân làm việc dưới 1 năm tại nước ngoài sau khi trừ thuế, phí.
C Chuyển giao vốn cá nhân Capital Transfers Chuyển giao vốn bằng tiền/hiện vật gắn với mua bán tài sản cố định hoặc xóa nợ giữa người không cư trú và cư trú (sinh sống trên 1 năm).
D Lợi ích xã hội Social Benefits Nguồn kiều hối nhận được từ các quỹ, tổ chức xã hội, bảo hiểm nước ngoài chi trả cho cá nhân/hộ gia đình.

Tổng kiều hối tư nhân xem xét trong các nghiên cứu kinh tế chủ yếu cấu thành từ hai khoản mục chính là (A) và (B).

Khung phân tích của luận án triển khai theo mô hình ba giai đoạn:

  1. Bên cung: Chủ thể gửi tiền (lao động tạm thời hợp pháp/bất hợp pháp theo trình độ kỹ năng, người định cư, phân loại theo giới tính), quốc gia gửi tiền (dòng Nam - Nam, Bắc - Nam), hình thái tài sản (ngoại tệ, vàng, tiền gửi tài khoản, hàng hóa) và hình thức gửi (cá nhân hoặc gửi theo nhóm/tổ chức kiều bào).
  2. Bên trung gian: Kênh chuyển tiền chính thức (tổ chức tín dụng, công ty chuyển tiền được cấp phép, mang ngoại tệ có khai báo hải quan) và kênh phi chính thức (chuyển tiền tay ba, mang ngoại tệ không khai báo, đơn vị không phép).
  3. Bên cầu: Mục đích sử dụng (trả nợ, tiêu dùng thiết yếu, giáo dục - y tế, tiết kiệm, mua tài sản/bất động sản, đầu tư dự án và doanh nghiệp nhỏ và vừa) và đối tượng nhận tiền (hộ gia đình nông thôn/thành thị, tổ chức, nhà nước).

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm phương pháp định lượng và phương pháp định tính:

  • Định lượng vĩ mô: Sử dụng mô hình Véctơ hiệu chỉnh sai số (VECM) để phân tích tác động dài hạn và ngắn hạn của dòng kiều hối đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Quy trình phân tích gồm: kiểm định tính dừng (Augmented Dickey-Fuller/PP), xác định độ trễ tối ưu cho hệ thống VAR, thực hiện kiểm định đồng liên kết Johansen và kiểm định Wald test nhằm đánh giá quan hệ nhân quả ngắn hạn.
  • Định lượng vi mô: Sử dụng phương pháp kết nối điểm xu hướng (Propensity Score Matching - PSM) trên tập dữ liệu Điều tra mức sống dân cư Việt Nam (VHLSS). Mô hình Probit được ước lượng để xác định điểm xu hướng nhận kiều hối, kiểm định cân bằng PSTEST được thực hiện, từ đó tính toán tác động can thiệp trung bình đối với nhóm nhận lợi ích (ATT) lên chi tiêu và tỷ lệ nghèo của hộ gia đình tại khu vực thành thị và nông thôn.
  • Phương pháp định tính: Sử dụng kỹ thuật phỏng vấn chuyên sâu thông qua bảng hỏi thiết kế riêng cho các nhóm đối tượng: hộ gia đình nhận kiều hối là khách hàng của Agribank, người gửi kiều hối, các tổ chức trung gian nhận và chi trả kiều hối, cán bộ ngân hàng thương mại, cán bộ hội nông dân và cơ quan quản lý nhà nước. Mẫu phỏng vấn chuyên sâu cơ quan quản lý gồm 6 chuyên gia:
Đơn vị công tác Cơ quan quản lý Số lượng phỏng vấn
Vụ Quản lý Ngoại hối Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 1 người
Vụ Dự báo Thống kê Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 1 người
Vụ Tín dụng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 1 người
Phòng Ngoại hối Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh TP. Hà Nội 1 người
Phòng Ngoại hối Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh TP. Hồ Chí Minh 1 người
Phòng Kế hoạch Tài chính Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ LĐ-TB&XH) 1 người

Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ báo cáo cán cân thanh toán của IMF, chỉ số dữ liệu World Bank, Tổng cục Thống kê, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách kiều hối phục vụ phát triển kinh tế

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về sự dịch chuyển lao động quốc tế, bắt nguồn từ thời kỳ thuộc địa đến nhu cầu tuyển dụng nhân công cho các công việc có tính chất 3D (Dirty - ô nhiễm, Difficult - khó khăn, Dangerous - nguy hiểm) tại các nước phát triển hoặc vùng Trung Đông, cũng như xu hướng di cư do biến động xã hội, chính trị hoặc hôn nhân quốc tế. Về mặt ngữ nghĩa, từ "kiều hối" cấu thành từ "kiều" (cư trú ở nơi khác) và "hối" (tiền chuyển trở về).

Tác giả phân tích các kênh truyền dẫn tác động của kiều hối đến nền kinh tế:

  1. Tích lũy vốn: Kiều hối nới lỏng ràng buộc tài chính đối với hộ gia đình, giảm chi phí sử dụng vốn và cải thiện mức độ tín nhiệm tín dụng, từ đó thúc đẩy đầu tư sản xuất kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ.
  2. Vốn con người: Tài trợ cho giáo dục và y tế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
  3. Năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) và dự trữ ngoại hối: Cải thiện cán cân thanh toán quốc tế và ổn định tiền tệ. Ngược lại, kiều hối có thể dẫn đến hiện tượng "Căn bệnh Hà Lan" (Dutch Disease), gây áp lực tăng giá đồng nội tệ thực tế, làm suy giảm năng lực cạnh tranh xuất khẩu và giảm cung lao động nội địa.

Chương này cũng tổng hợp kinh nghiệm chính sách của các quốc gia:

  • Ấn Độ: Phát hành trái phiếu chuyên biệt cho kiều bào (Resurgent India Bonds, India Millennium Deposits), thành lập Cơ chế Dịch vụ Chuyển tiền (MTSS) và Cơ chế Rút đồng Rupee (RDA), áp dụng Đạo luật FEMA, phân loại người gốc Ấn (PIO) và công dân Ấn Độ ở nước ngoài (OCI).
  • Mexico: Triển khai chương trình quỹ đối ứng 3x1 (kết hợp kiều hối gửi theo nhóm của các tổ chức HTA với vốn ngân sách địa phương và trung ương để đầu tư hạ tầng cơ sở), cấp thẻ căn cước lãnh sự (Matrícula Consular) hỗ trợ người di cư tiếp cận dịch vụ ngân hàng.
  • Philippines: Thành lập Cục Quản lý Lao động Ngoài nước (POEA) và Cơ quan Phúc lợi Lao động Ngoài nước (OWWA), ký kết hiệp định lao động song phương, giảm chi phí hành lang chuyển tiền kiều hối (hành lang Ý – Philippines).
  • Moldova và Slovenia: Thỏa thuận hợp tác lao động ngắn hạn theo mùa vụ; El Salvador với chương trình phát triển địa phương "Mi Comunidad".

Chương 2: Thực trạng chính sách kiều hối phục vụ phát triển kinh tế tại Việt Nam

Chương 2 phân tích toàn diện thực trạng thị trường kiều hối và chính sách kiều hối tại Việt Nam:

Bên cung: Lịch sử di cư của người Việt Nam chia thành các mốc: làn sóng di cư sau năm 1975, xuất khẩu lao động sang các nước Đông Âu thời kỳ trước 1990, và giai đoạn đẩy mạnh đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng từ sau năm 1999 sang các thị trường Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia và Trung Đông. Lượng kiều hối chuyển về Việt Nam phân theo nhóm quốc gia ghi nhận tỷ trọng lớn nhất từ Mỹ, tiếp đến là khu vực châu Á - Thái Bình Dương và châu Âu. Bên cạnh lao động hợp đồng, tồn tại bộ phận lao động không theo hợp đồng cư trú bất hợp pháp ở nước ngoài.

Bên trung gian: Hệ thống chuyển tiền chính thức gồm các tổ chức tín dụng thương mại, công ty kiều hối trực thuộc ngân hàng (như Công ty Kiều hối Vietcombank, Vietinbank, DongA, Sacombank, Agribank), các tổ chức chuyển tiền quốc tế (Western Union, MoneyGram) và mạng lưới bưu điện. Kênh phi chính thức (chuyển tiền tay ba, mang tiền mặt không khai báo) vẫn chiếm tỷ lệ đáng kể, ước tính khoảng 30% do thói quen bảo mật thông tin, sự tiện lợi và tránh các thủ tục chứng minh nguồn gốc tiền tệ.

Bên cầu: Số liệu khảo sát mục đích sử dụng kiều hối của hộ gia đình cho thấy thứ tự ưu tiên: thanh toán các khoản nợ vay chi phí đi xuất khẩu lao động, phục vụ chi tiêu sinh hoạt thường xuyên, xây dựng và cải tạo nhà ở, gửi tiết kiệm ngân hàng, mua sắm tài sản có giá trị và đầu tư vào sản xuất nông nghiệp hoặc kinh doanh hộ cá thể.

Kết quả phân tích định lượng:

  1. Mô hình VECM: Kiểm định chuỗi số liệu kinh tế vĩ mô xác nhận mối quan hệ đồng liên kết dài hạn giữa kiều hối và tăng trưởng kinh tế (GDP). Kết quả hàm ý kiều hối đóng góp tích cực vào tăng trưởng trong dài hạn. Tuy nhiên, kiểm định Wald test đối với các hệ số trong ngắn hạn cho thấy tác động ngắn hạn của kiều hối tới tăng trưởng GDP chưa đạt ý nghĩa thống kê rõ rệt, phản ánh độ trễ trong việc chuyển hóa nguồn vốn này vào chu trình sản xuất.
  2. Mô hình PSM: Sử dụng bộ số liệu VHLSS, kết quả ước lượng Probit và chỉ số ATT khẳng định việc nhận kiều hối tác động làm giảm tỷ lệ nghèo của hộ gia đình một cách có ý nghĩa thống kê. Tỷ lệ nghèo ở cả khu vực thành thị và nông thôn của nhóm hộ có nhận kiều hối đều thấp hơn đáng kể so với nhóm hộ đối chứng không nhận kiều hối.

Thực trạng khung pháp lý và chính sách (1999–2018): Bước ngoặt quan trọng là Quyết định 170/1999/QĐ-TTg bãi bỏ thuế thu nhập đối với kiều hối chuyển về nước, cho phép người nhận lĩnh bằng ngoại tệ hoặc đồng Việt Nam và gửi tiết kiệm tại ngân hàng. Tiếp đó là Pháp lệnh Ngoại hối 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2013), Nghị định 22/2006/NĐ-CP và Nghị định 89/2016/NĐ-CP quy định về điều kiện hoạt động của các đại lý đổi ngoại tệ và dịch vụ nhận, chi trả ngoại tệ. Chính sách tín dụng ưu đãi xuất khẩu lao động qua NHCSXH đã hỗ trợ người nghèo vay vốn đi làm việc ở nước ngoài, nhưng bảng số liệu giai đoạn 2010–2017 cho thấy tỷ lệ nợ quá hạn và nợ đọng tại NHCSXH đối với chương trình này có xu hướng gia tăng. Thể chế quản lý kiều hối hiện bị phân tán giữa Ngân hàng Nhà nước, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính và Bộ Ngoại giao.

Chương 3: Giải pháp về chính sách kiều hối phục vụ phát triển kinh tế Việt Nam

Chương 3 đề xuất định hướng, mục tiêu và nhóm giải pháp chính sách đến năm 2025, tầm nhìn 2030:

Hệ thống mục tiêu:

  • Tăng nguồn cung kiều hối chuyển qua kênh chính thức, giảm tỷ trọng giao dịch qua kênh phi chính thức xuống dưới mức 15%.
  • Nâng cao tỷ lệ sử dụng kiều hối vào các kênh tích lũy vốn đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh và đổi mới sáng tạo, giảm tỷ trọng tiêu dùng hàng hóa xa xỉ nhập khẩu.

Nhóm giải pháp từ phía cung:

  • Đổi mới công tác đào tạo lao động xuất khẩu, chuyển dịch cơ cấu từ lao động phổ thông sang lao động có kỹ năng nghề, kỹ thuật và lĩnh vực STEM nhằm gia tăng giá trị thu nhập chuyển về.
  • Xây dựng hợp đồng khung tiêu chuẩn bảo vệ quyền lợi pháp lý của người lao động ở nước ngoài.
  • Phát triển chính sách thu hút nguồn lực tri thức và tài chính của cộng đồng kiều bào định cư, khuyến khích thành lập các mạng lưới hội doanh nhân, trí thức Việt kiều đầu tư về nước.

Nhóm giải pháp cho kênh dịch vụ chuyển tiền (trung gian):

  • Phát triển hạ tầng thanh toán điện tử, khuyến khích các công ty công nghệ tài chính (FinTech) tham gia thị trường chi trả kiều hối.
  • Minh bạch hóa biểu phí và tỷ giá chuyển đổi kiều hối để tạo áp lực cạnh tranh giảm phí giao dịch.
  • Mở rộng mạng lưới điểm giao dịch tài chính chính thức của Agribank, NHCSXH và các tổ chức tài chính vi mô đến vùng sâu, vùng xa để hạn chế dịch vụ chuyển tiền ngầm.

Nhóm giải pháp về phía cầu:

  • Thiết kế các sản phẩm tài chính chuyên biệt gắn với kiều hối: tài khoản tiết kiệm tích lũy kiều hối, chứng chỉ tiền gửi ngoại tệ lãi suất linh hoạt, trái phiếu kiều bào (Diaspora Bonds) để huy động vốn cho các dự án hạ tầng quốc gia.
  • Hỗ trợ khởi sự doanh nghiệp cho lao động hồi hương thông qua tư vấn kinh doanh và cung cấp tín dụng đối ứng.
  • Thí điểm mô hình quỹ phát triển cộng đồng tại các địa phương có đông người đi xuất khẩu lao động (vận dụng kinh nghiệm mô hình 3x1 của Mexico và chương trình "Mi Comunidad").

Nhóm khuyến nghị cụ thể:

  1. Nâng cao công tác thống kê kiều hối quốc gia: Áp dụng phương pháp luận thống kê theo chuẩn BPM6 của IMF nhằm phản ánh đúng nguồn gốc dòng tiền, khắc phục sự chênh lệch số liệu giữa Ngân hàng Nhà nước và World Bank.
  2. Tăng cường minh bạch thông tin thị trường dịch vụ chuyển tiền.
  3. Tổ chức lại Quỹ Bảo hộ công dân và Quỹ Quốc gia về việc làm nhằm hỗ trợ xử lý rủi ro pháp lý cho lao động di cư.
  4. Tăng cường kiểm soát và thẩm định hoạt động cho vay tín dụng ưu đãi xuất khẩu lao động tại NHCSXH để giảm thiểu nợ đọng.
  5. Nghiên cứu ban hành khung chính sách cho loại hình di cư lao động ngắn hạn theo mùa vụ giữa Việt Nam và các quốc gia đối tác.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận:

  • Luận án phân tích nguồn gốc ngữ nghĩa và hệ thống hóa khái niệm kiều hối dựa trên mô hình cung – trung gian – cầu ba giai đoạn. Luận án làm rõ các thành phần cấu thành kiều hối theo quy chuẩn Cán cân thanh toán quốc tế BPM6 của IMF, giải thích bản chất kinh tế dẫn đến sự khác biệt số liệu thống kê giữa các tổ chức quốc tế (World Bank) và cơ quan quản lý trong nước (Ngân hàng Nhà nước).
  • Xây dựng khung phân loại kiều hối đa tiêu chí theo ba bên: bên cung (pháp lý, kỹ năng, giới tính, địa bàn, hình thức gửi), bên trung gian (chính thức, phi chính thức) và bên cầu (mục đích sử dụng, đối tượng thụ hưởng).
  • Hệ thống hóa các mục tiêu, nội dung và công cụ can thiệp của chính sách kiều hối phục vụ phát triển kinh tế vĩ mô và vi mô.

Về mặt thực tiễn:

  • Luận án xây dựng hệ thống mục tiêu kép cho chính sách kiều hối tại Việt Nam: chuyển dịch dòng tiền vào kênh chuyển khoản chính thức và hướng dòng vốn vào các hoạt động sản xuất kinh doanh phục vụ mục tiêu phát triển bền vững dựa trên tiến bộ khoa học công nghệ.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp gắn kết ba chủ thể (cung - trung gian - cầu), bao gồm các đề xuất thực tiễn về công cụ trái phiếu kiều bào, chính sách tín dụng ưu đãi xuất khẩu lao động, và cơ chế chuyển tiền kiều hối gắn với tài chính toàn diện.
  • Hệ thống hóa bài học kinh nghiệm quốc tế từ Ấn Độ, Mexico, Philippines, El Salvador và Moldova để chỉ ra các hàm ý thực thi cụ thể cho cơ quan quản lý tiền tệ và lao động tại Việt Nam.

Về mặt phương pháp:

  • Ứng dụng khung tiếp cận cung – trung gian – cầu để phân tích thực trạng chính sách và phát hiện các khoảng trống thể chế quản lý nhà nước tại Việt Nam.
  • Kết hợp dữ liệu định tính thu thập từ quan sát thuần túy và phỏng vấn chuyên sâu 6 cán bộ quản lý (thuộc NHNN và Bộ LĐ-TB&XH), các ngân hàng thương mại, tổ chức chuyển tiền và hộ gia đình nhận kiều hối.
  • Kết hợp đồng thời kỹ thuật kinh tế lượng vĩ mô (mô hình VECM trên chuỗi dữ liệu thời gian) và kinh tế lượng vi mô (mô hình PSM trên bộ dữ liệu khảo sát mức sống dân cư VHLSS) để lượng hóa tác động của dòng kiều hối ở hai cấp độ kinh tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Về phạm vi nội dung, luận án chỉ tập trung vào nguồn kiều hối tư nhân chuyển từ người lao động và người di cư cá nhân, không xem xét các khoản chuyển giao tài chính từ chính phủ nước ngoài, các tổ chức quốc tế hay tổ chức phi chính phủ vào Việt Nam.
  • Về số liệu, do bản chất bảo mật và phức tạp của thị trường tài chính ngầm, luận án chưa thể lượng hóa trực tiếp quy mô tuyệt đối của dòng kiều hối phi chính thức tại Việt Nam mà chủ yếu dựa trên ước tính gián tiếp và thông tin phỏng vấn chuyên gia.
  • Về mẫu khảo sát định tính, dữ liệu vi mô sơ cấp đối với hộ gia đình nhận kiều hối mới chỉ giới hạn trên nhóm khách hàng nông thôn của Ngân hàng Agribank, chưa bao quát được toàn diện nhóm hộ nhận tiền tại khu vực đô thị lớn thông qua các công ty kiều hối tư nhân độc lập.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Tiếp tục mở rộng các phương pháp lượng hóa kinh tế ngầm để đo lường chính xác hơn quy mô và cơ chế vận hành của các kênh chuyển tiền kiều hối phi chính thức tại Việt Nam.
  • Nghiên cứu tác động của làn sóng chuyển đổi số, công nghệ chuỗi khối (Blockchain) và các ứng dụng FinTech xuyên biên giới đến chi phí giao dịch và hành vi chuyển tiền của người di cư.
  • Đi sâu đánh giá tính khả thi và cơ chế định giá cho công cụ trái phiếu kiều bào (Diaspora Bonds) nhằm tài trợ cho các dự án cơ sở hạ tầng công cộng tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn cho các nhóm đối tượng:

Đối với cơ quan quản lý nhà nước:

  • Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Vụ Quản lý Ngoại hối, Vụ Dự báo Thống kê): Cung cấp cơ sở khoa học để chuẩn hóa quy trình thu thập số liệu kiều hối theo BPM6, hoàn thiện quy định quản lý đại lý chi trả ngoại tệ và thiết kế chính sách tiền tệ hạn chế hiện tượng đô la hóa.
  • Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (Cục Quản lý lao động ngoài nước): Tham khảo luận cứ để điều chỉnh cơ cấu thị trường xuất khẩu lao động, ký kết các hiệp định hợp tác lao động ngắn hạn theo mùa vụ và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ Bảo hộ công dân.
  • Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH): Cung cấp dữ liệu đánh giá thực trạng thu nợ và nợ đọng giai đoạn 2010–2017 để hoàn thiện quy trình thẩm định cho vay xuất khẩu lao động.

Đối với các tổ chức tín dụng và trung gian thanh toán:

  • Là tài liệu tham khảo cho các NHTM và công ty kiều hối trong việc phát triển các sản phẩm tài chính đi kèm dịch vụ chi trả kiều hối (tiết kiệm, bảo hiểm, tín dụng vi mô, tài khoản số), mở rộng khả năng tiếp cận tài chính toàn diện tại khu vực nông thôn.

Đối với giới nghiên cứu và đào tạo học thuật:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kinh tế quốc tế, Tài chính – Ngân hàng có thể sử dụng luận án làm tài liệu tham khảo về phương pháp kết hợp mô hình VECM vĩ mô và mô hình PSM vi mô, cũng như khung lý thuyết phân tích kiều hối theo mô hình cung – trung gian – cầu.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án giải thích nguyên nhân gây ra sự chênh lệch số liệu thống kê kiều hối giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ngân hàng Thế giới như thế nào? Sự chênh lệch xuất phát từ phạm vi định nghĩa và nguồn dữ liệu thu thập. Ngân hàng Thế giới (World Bank) thu thập số liệu kiều hối dựa trên định nghĩa mở rộng theo Cẩm nang BPM6 của IMF, tính toán cả dòng chuyển giao tư nhân (Personal Transfers), thu nhập của người lao động tạm thời dưới 1 năm (Compensation of Employees) và thực hiện các mô hình ước tính dòng tiền chuyển qua kênh phi chính thức. Trong khi đó, số liệu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ yếu dựa trên báo cáo giao dịch thực tế chuyển qua hệ thống các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp được cấp phép hoạt động dịch vụ kiều hối chính thức trên lãnh thổ, chưa bao quát hết các cấu phần thu nhập lưu trú ngắn hạn và dòng tiền luân chuyển ngoài hệ thống ngân hàng.

2. Các khoản mục nào cấu thành kiều hối theo Cẩm nang Cán cân Thanh toán Quốc tế phiên bản 6 (BPM6) của IMF được tác giả viện dẫn? Theo BPM6, kiều hối cấu thành từ 4 khoản mục:

  • Khoản mục A: Chuyển giao tư nhân (Personal Transfers) giữa người không cư trú và người cư trú có thời hạn lưu trú trên 1 năm.
  • Khoản mục B: Thu nhập của người lao động (Compensation of Employees) có thời hạn lao động dưới 1 năm tại nước ngoài.
  • Khoản mục C: Chuyển giao vốn giữa các cá nhân, hộ gia đình (Capital Transfers) gắn với mua bán tài sản cố định hoặc xóa nợ.
  • Khoản mục D: Lợi ích xã hội (Social Benefits) do các tổ chức, quỹ bảo hiểm nước ngoài chi trả. Kiều hối tư nhân nghiên cứu chủ yếu gồm hai khoản mục A và B.

3. Luận án chỉ ra những rủi ro vĩ mô nào mà dòng kiều hối có thể mang lại cho nền kinh tế Việt Nam? Luận án chỉ ra 5 rủi ro vĩ mô:

  • Tình trạng "bội thực vốn ngoại" gây áp lực tăng giá đồng nội tệ, buộc NHTW phải can thiệp bơm tiền đồng làm tăng nguy cơ lạm phát và bong bóng tài sản (như thực tế năm 2007).
  • Gia tăng mức độ đô la hóa nền kinh tế, làm giảm hiệu lực truyền dẫn của chính sách tiền tệ.
  • Thúc đẩy xu hướng tiêu dùng quá mức các mặt hàng nhập khẩu giá trị cao.
  • Tiềm ẩn nguy cơ bị lợi dụng cho hoạt động rửa tiền quốc tế.
  • Khó kiểm soát kinh tế vĩ mô do tỷ lệ kiều hối qua kênh phi chính thức còn cao (ước tính khoảng 30%).

4. Mô hình định lượng nào được luận án sử dụng để kiểm định tác động của kiều hối ở cấp độ vĩ mô và vi mô? Ở cấp độ vĩ mô, tác giả sử dụng mô hình Véctơ hiệu chỉnh sai số (VECM) kết hợp kiểm định nghiệm đơn vị, độ trễ tối ưu, kiểm định đồng liên kết Johansen và kiểm định Wald test trên dữ liệu chuỗi thời gian. Ở cấp độ vi mô, tác giả sử dụng phương pháp kết nối điểm xu hướng (Propensity Score Matching - PSM) với mô hình Probit, kiểm định cân bằng PSTEST và tính toán chỉ số tác động can thiệp trung bình (ATT) trên tập dữ liệu Điều tra mức sống dân cư Việt Nam (VHLSS).

5. Luận án đề xuất những bài học quốc tế cụ thể nào từ Ấn Độ và Mexico cho chính sách kiều hối tại Việt Nam? Từ Ấn Độ, luận án rút ra bài học về việc phát hành trái phiếu kiều bào chuyên biệt (Resurgent India Bonds, India Millennium Deposits) để huy động nguồn vốn ngoại tệ dài hạn, xây dựng cơ chế dịch vụ chuyển tiền MTSS và phân loại địa vị pháp lý người gốc Ấn (PIO/OCI). Từ Mexico, bài học được đúc kết là triển khai mô hình quỹ đối ứng 3x1 kết hợp kiều hối của các hội đồng hương (HTA) với ngân sách nhà nước để đầu tư công trình hạ tầng địa phương, và cấp thẻ căn cước lãnh sự nhằm hỗ trợ kiều bào tiếp cận hệ thống tài chính chính thức.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Huy Tùng đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách kiều hối phục vụ phát triển kinh tế tại Việt Nam qua khung tiếp cận ba giai đoạn: cung, trung gian và cầu. Bằng sự kết hợp giữa mô hình kinh tế lượng vĩ mô VECM, mô hình vi mô PSM và phương pháp phỏng vấn chuyên sâu chuyên gia, công trình đã chứng minh tác động tích cực dài hạn của kiều hối đối với tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo, đồng thời làm rõ những hạn chế thể chế trong quản lý dòng vốn này giai đoạn 1999–2018. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện nhằm giảm chi phí giao dịch kênh chính thức, đa dạng hóa các công cụ tài chính gắn với kiều hối và chuẩn hóa công tác thống kê quốc gia theo tiêu chuẩn quốc tế.