PHẦN MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Tích cực tăng tỷ lệ tiết kiệm trong thời gian trước khi bắt đầu vào thời kỳ ổn định là chìa khóa cho sự tăng trưởng dài hạn cho một nền kinh tế theo học thuyết của mô hình Swan-Solow. Các nước đang phát triển, đặc biệt là quốc gia có tỷ lệ tiết kiệm nội địa thấp, luôn có nhu cầu rất lớn về nguồn vốn cho tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững. Tuy nguồn lực trong nước là cơ bản nhưng nguồn lực từ bên ngoài luôn có vai trò đặc biệt quan trọng cho sự tăng trưởng bứt phá nhằm đuổi kịp các nền kinh tế phát triển khác.
Để đáp ứng yêu cầu vốn, nhiều quốc gia thường tìm đến thị trường tài chính trong nước và quốc tế như phát hành trái phiếu chính phủ, trái phiếu quốc tế hay đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), nhận viện trợ phát triển chính thức (ODA) mà ít quan tâm đến những khoản tiền của các cá nhân chuyển từ nước ngoài về cho thân nhân trong nước, đó là dòng tiền kiều hối. Kiều hối đang là nguồn tài chính giá rẻ (không phải chịu lãi suất) và ngày càng có khuynh hướng quan trọng đối với các quốc gia có thu nhập trung bình và thấp. Song, tại một số quốc gia, dòng kiều hối hiện lại bị giới hạn bởi các yếu tố nội tại thuộc các nước tiếp nhận kiều hối như chính sách quản lý của nhà nước, mức phí chuyển tiền, hệ thống dịch vụ ngân hàng trong nước… Do đó, đòi hỏi phải cải thiện các chính sách để tối ưu hóa vai trò cũng như các lợi ích tiềm năng của dòng kiều hối có thể mang lại cho nền kinh tế. Có rất nhiều quốc gia trên thế giới có nguồn kiều hối lớn hơn và ổn định hơn nguồn FDI rất nhiều và thậm chí còn lớn hơn cả nguồn ODA.
Worldbank (2017) cũng chỉ ra trong điều kiện tiết kiệm nội địa thấp, chi tiêu chính phủ lớn thì nguồn tài chính từ nước ngoài, đặc biệt là nguồn chuyển tiền kiều hối là đặc biệt có vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế và xóa đói giảm nghèo. Đối với Việt Nam, kiều hối ngày càng trở nên quan trọng. Từ sau năm 1999, dòng kiều hối vào Việt Nam tăng cả về số tuyệt đối và tương đối so với GDP. Thống kê chính thức cho thấy, từ năm 1993 đến 2018, lượng kiều hối đã tăng lên khoảng 100 lần, từ 141 triệu USD lên xấp xỉ 16 tỷ USD (Worldbank Indicator Data); và dòng kiều hối đang có khuynh hướng gia tăng trong những năm tới do lượng lao động xuất khẩu của Việt Nam ngày một tăng và môi trường đầu tư trong nước đang được cải thiện mạnh mẽ…Trong thời kỳ khủng hoảng tài chính 2008-2009, khi ODA và FDI giảm nhưng lượng kiều hối đổ vào Việt Nam không những không giảm mà còn liên tục gia 2 tăng.
Điều này đã chứng tỏ kiều hối ngày càng trở thành nguồn vốn ổn định và có thể dần thay thế được các nguồn vốn từ bên ngoài như ODA hay FDI. Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu ấn tượng trên nhiều lĩnh vực, trong đó có thành công về xóa đói giảm nghèo. Mặc dù chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về mối quan hệ giữa kiều hối và đói nghèo ở Việt Nam, việc phủ nhận vai trò của kiều hối trong việc giảm tỷ lệ đói nghèo ở nhiều vùng trên cả nước là chưa chắc chắn. Trên thực tế, có khá nhiều người nhận tiền trợ giúp của người thân từ nước ngoài và họ đã thoát khỏi đói nghèo, trẻ em được đến trường; có hộ còn mua thêm tư liệu sản xuất, mở xưởng sản xuất kinh doanh và thậm chí xuất khẩu hàng hóa (như hàng thủ công mỹ nghệ, đồ gốm, đồ gỗ…) và như vậy đã tạo ra việc làm… Bên cạnh những tác động tích cực của dòng kiều đến kinh tế xã hội, không thể không nói đến những tác động tiêu cực mà nó mang lại, đó là: (i) Nền kinh tế Việt Nam tỏ ra bị động trước dòng vốn chảy vào quá lớn đột biến (trong đó có dòng kiều hối): Bản thân nguồn lực tài chính là rất tốt đối với mọi quốc gia cho tăng trưởng.
Tuy nhiên nếu không chủ động và có chính sách phù hợp cho việc tiếp nhận các dòng vốn quốc tế thì sẽ không tận dụng được những lợi ích của nguồn lực này mang lại mà trái lại, dòng vốn này có thế gây ra những tác động tiêu cực đến nền kinh tế nói chung, hệ thống tài chính nói riêng, được biết đến với tên gọi là “bội thực vốn ngoại”1. (ii) Tình trạng đô la hóa có thể làm giảm hiệu lực và hiệu quả của chính sách tiền tệ. Trong điều kiện thị trường ngoại tệ tự do phát triển khá mạnh thì rất có thể là kiều hối đã góp phần vào tình trạng đô la hóa cao. (iii) Kiều hối và vấn đề tiêu dùng quá mức: Tuy chưa có nghiên cứu, khảo sát cụ thể, nhưng cũng có dấu hiệu về biểu hiện tiêu dùng quá mức khi dòng kiều hối chảy vào gia tăng.
Nhiều nghiên cứu cho thấy, trong thời gian kiều hồi về nhiều, thì hàng nhập khẩu giá trị cao đã tăng lên đáng kể. 1 Năm 2007, Việt Nam phải đối mặt với khá nhiều vấn đề khi lượng vốn nước ngoài chảy vào quá lớn (trong đó có khoảng 7 tỷ USD kiều hối). Sự chưa sẵn sàng và chưa thực sự chủ động dẫn đến tình trạng VND lên giá, thị trường ngoại hối đình đốn vào đầu năm 2008. Để tránh cho VND lên giá, NHNN đã phải mua vào ngoại tệ, đồng nghĩa với việc phải bơm VND ra và tạo nên áp lực lạm phát.
Trong trường hợp các biện pháp trung hòa lượng VND bơm ra không hiệu quả thì một lượng tiền VND lưu thông quá lớn sẽ gây ra các hiệu ứng tiêu cực lên thị trường chứng khoán và thị trường nhà đất (bong bóng tài sản). 3 (iv) Kiều hối và hoạt động rửa tiền: Các nước kém phát triển thường là điểm đến của các dòng tiền ẩn sau kiều hối. Việt Nam đã tham gia Điều ước quốc tế về phòng chống rửa tiền song đó vẫn là vấn đề cần phải quan tâm. (v) Kiều hối qua kênh phi chính thức vẫn rất khó kiếm soát và phức tạp cả trong lý luận lẫn thực tiễn: theo thống kê của một đại diện cơ quan quản lý Nhà nước thì lượng kiều hối qua kênh không chính thức có thể lên tới khoảng 30% tổng lượng kiều hối chuyển về Việt Nam.
Điều này sẽ khiến cho hiệu lực chính sách vĩ mô sẽ gặp nhiều khó khăn do chưa tính hết được lượng tiền ngoại tệ trong nền kinh tế. Thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế, Việt Nam đã có các chính sách nới lỏng đối với dòng kiều hối từ năm 1999. Những thay đổi trong chính sách quản lý ngoại hối cũng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các dòng vốn ra, vào nói chung và kiều hối nói riêng. Song các chính sách liên quan đến kiều hối vẫn còn nhiều bất cập, chưa thu hút tối đa dòng kiều hối để phát huy những tác động tích cực và có những biện pháp hữu hiệu nhằm hạn chế tác động tiêu cực của kiều hối.
Chẳng hạn, chính sách công về khuyến khích sử dụng kiều hối vào kênh phát triển chưa được quan tâm đúng mức. Các chính sách về khuyến khích các tổ chức trung gian nhận và chi trả kiều hối chưa được tập trung. Ngoài ra, chưa có chính sách và hành động nhằm thúc đẩy sự minh bạch trên thị trường dịch vụ kiều hối. Để tối ưu hóa nguồn vốn kiều hối cho phát triển không những đòi hỏi phải có một hệ thống chính sách kiều hối đồng bộ và khoa học, từ chính sách công tới chính sách tư nhân, phù hợp với diễn biến và tình hình mới, mà còn đặt ra vấn đề chính sách kiều hối trong mối quan hệ với các chính sách khác và trong bối cảnh mới.
Do đó, việc nghiên cứu đề tài: “Chính sách kiều hối phục vụ phát triển kinh tế Việt Nam” là cần thiết. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan nghiên cứu nước ngoài Chủ đề kiều hối đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các tổ chức quốc tế và các học giả, nhà làm chính sách trên các phạm vi phong phú. Xu hướng nghiên cứu về kiều hối bắt đầu xuất hiện với tần suất lớn từ sau Chiến tranh Thế giới thứ II khi những quy định cởi mở hơn về vấn đề di cư, nhập cư được các quốc gia áp dụng.
Kể từ đó tới nay, các nghiên cứu nổi bật về kiều hối có thể được chia thành 3 nội dung chính đó là: (i) định nghĩa, phương pháp đo lường và dòng kiều hối; (ii) các nhân tố ảnh hưởng tới 4 quyết định gửi kiều hối; (iii) sử dụng và tác động của kiều hối. Phần tiếp theo trình bày xu hướng những kết quả nghiên cứu cơ bản ở từng nội dung nghiên cứu trên. Định nghĩa, phương pháp đo lường và dòng kiều hối Định nghĩa về kiều hối có sự khác nhau giữa các quốc gia dẫn đến sự sai khác trong cách đo lường kiều hối (Kapur, 2003; Worldbank, 2007). Dù tất cả đều thừa nhận sự phát triển và ngày càng chiếm tỷ trọng lớn của kiều hối gửi từ thân nhân ở nước ngoài, định nghĩa và phương pháp sử dụng để đo lường kiều hối cũng không giống nhau ở tất cả các quốc gia.
Một số nước không công bố hoặc công bố một phần số liệu về kiều hối chính thức, trong khi đó, một số khác lại chỉ công bố số liệu từ các công ty chuyển tiền. Sự khác biệt giữa đầu tư và kiều hối cũng tương đối không rõ ràng. Những sự không nhất quán này dẫn đến vấn đề thống kê và so sánh kiều hối giữa các quốc gia gặp khó khăn (Worldbank, 2007). Số liệu kiều hối thường xuyên được sử dụng trong phân tích đó là số trên cán cân thanh toán cung cấp bởi IMF.
Do đó, nhằm mục đích thống kê lượng kiều hối một cách nhất quán trên toàn cầu, IMF (2009) đã mở rộng khái niệm kiều hối từ “một phần thu nhập của người di cư chuyển về cho thân nhân tại nước bản xứ” thành “nguồn thu nhập mà hộ gia đình của một quốc gia nhận được từ một quốc gia khác”. Như vậy, ngoài nguồn thu nhập có từ thân nhân gửi từ nước ngoài về, hộ gia đình còn nhận được kiều hối từ phía Chính phủ, các tổ chức hay quỹ từ thiện. Bên cạnh dữ liệu cung cấp bởi IMF, khảo sát hộ gia đình cũng là một phương pháp hữu ích trong việc nâng cao số liệu thống kê kiều hối.